vanban.org

Bản án 32/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L xin hôn H"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15- AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số:32/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19/8/2025
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15- AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Thanh

Bà Dương Thị Thúy Duy

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Triệu Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15- An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Tín – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:206/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số:21/2025/QĐHPT-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1989; nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang (nay là ấp P, xã N, tỉnh An Giang).

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1979; nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang (nay là ấp P, xã N, tỉnh An Giang).

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.

(Bà L vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông H vắng mặt không rõ lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Trần Thị Mỹ L trình bày: Hôn nhân giữa bà và ông H hình thành do tự tìm hiểu yêu thương nhau rồi được cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức đám cưới vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh An Giang (nay là xã N, tỉnh An Giang). Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do hai người bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không có tiếng nói chung,vợ chồng thường xuyên gây cãi nhau,bà nhiều lần khuyên ngăn ông H thay đổi tính tình để vợ chồng chung sống vì con nhưng không được, từ đó làm cho gia đình mất hạnh phúc. Hai người ly thân nhau hơn 02 năm nay, không hàn gắn tình cảm. Từ ly thân nhau cha mẹ hai bên không ai đứng ra hàn gắn, tự ông bà giải quyết. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông H có 03 (ba) con chung: 1/Nguyễn Đ, sinh ngày 26/11/2011; 2/ Nguyễn Đức N, sinh ngày 21/8/2014; 3/ Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 13/9/2018; hiện 02 (hai) con chung là cháu N và cháu Kim A đang được bà L nuôi dạy, còn cháu T đang được ông H và gia đình ông H nuôi dạy. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con 02 (hai) con chung là cháu N Và cháu Kim A, đồng ý giao con chung là cháu T cho ông H nuôi, bà không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H không có mặt theo các văn bản triệu tập của Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến; ông H cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Theo biên bản ghi nhận lời khai người thân của bà L và ông H thì giữa hai người phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, hiện không còn sống chung với nhau đã lâu.

Tại phiên tòa, bà L vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Riêng ông H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn về việc xin ly hôn với bị đơn và yêu cầu về con chung là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H, đồng thời ông H vẫn thường trú trên địa bàn ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang (nay là ấp P, xã N, tỉnh An Giang). Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15- An Giang.

Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Bà L vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông H được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh An Giang (nay là xã N, tỉnh An Giang). theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên thụ lý, giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét, yêu cầu của bà L xin ly hôn với ông H, Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà L và ông H phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến ly thân, thời gian ly thân giữa ông bà đã lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn, đều này phù hợp với các biên bản làm việc với người làm chứng, người cho ý kiến mà Tòa án thu thập được. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông H đã thật sự trầm trọng không thể hàn gắn, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Bà L và ông H có 03 (ba) con chung 1/Nguyễn Đức Trong, sinh ngày 26/11/2011; 2/ Nguyễn Đức N, sinh ngày 21/8/2014; 3/ Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 13/9/2018; hiện 02 (hai) con chung là cháu N và cháu Kim A đang được bà L nuôi dạy, còn cháu T đang được ông H và gia đình ông H nuôi dạy. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con 02 (hai) con chung là cháu N Và cháu Kim A, đồng ý giao con chung là cháu T cho ông H nuôi, Xét thấy, các cháu T, N và Kim A còn nhỏ, từ trước đến nay 02 cháu N và Kim A được bà L trực tiếp nuôi dạy, tình cảm mẹ con đã thật sự gắn bó, còn cháu T được ông H trực tiếp nuôi dạy, tình cảm cha con cũng đã thật sự gắn bó. Do đó, để tránh làm xáo trộn về mặt tâm lý đối với các con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà L được tiếp tục nuôi 02 con chung là Nguyễn Đức N và Nguyễn Thị Kim A, ông H được nuôi dạy con chung là cháu Nguyễn Đức T, cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T là được sống với cha và ông bà nội.

[4] về cấp dưỡng: Bà L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử công nhận tự nguyện này của bà L. Ông H vắng mặt nên không xem xét giải quyết, khi ông H có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Bà L là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 8, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ L.

Về hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ L được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: Bà Trần Thị Mỹ L được nuôi dạy 02 (hai) con chung là Nguyễn Đức N, sinh ngày 21/8/2014 và Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 13/9/2018. Ông Nguyễn Văn H được nuôi dạy con chung là Nguyễn Đức T, sinh ngày 26/11/2011.

Bà L và ông H cùng các thành viên gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Bên không trực tiếp nuôi con, không được lợi dụng quyền thăm con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà gây ảnh hưởng đến việc nuôi dạy con của bên trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí: Bà Trần Thị Mỹ L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0016071 ngày 10/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực A- An Giang). (Bà L đã nộp đủ).

Ông Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Án tuyên vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết bà L và ông H được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 (7a, 7b) và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ