- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị H- Huỳnh Văn H"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24-04-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Hừng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Chau Khon Sốc
2. Bà Trần Thị Ngọc Phượng
- Thư ký phiên toà: Ông Chau Chanh Đô Ra là Thư ký Toà án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn: Bà Trầm Ngọc Minh Thư, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 04/TB-TA ngày 27 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 35/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1979 (xin xét xử vắng mặt); địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang;
2. Bị đơn: Huỳnh Văn H1, sinh năm 1983 (vắng mặt); địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn ly hôn, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Lê Thị H trình bày:
Bà H và ông H1 có thời gian quen biết tự nguyện tìm hiểu nhau năm 2009, đến năm 2010 về chung sống đến ngày 02/12/2010 tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang nhưng không tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng ra ở riêng, hạnh phúc được thời gian đầu đến năm 2011 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, đôi bên đã ly thân từ năm 2011 cho đến nay chưa về chung sống lại. Nay tình cảm không còn nên bà H khởi kiện ly hôn với ông H1.
Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Huỳnh Văn H1 vắng mặt trong suốt quá trình tiến hành tố tụng, không ghi nhận được ý kiến trình bày, Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn phát biểu ý kiến:
Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ và chấp hành đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Nhận thấy nguyên đơn và bị đơn chung sống có đăng ký kết hôn hợp pháp vào năm 2010, đến năm 2011 phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, dẫn đến việc bà H khởi kiện ly hôn, và đôi bên đã ly thân từ năm 2011 đến nay chưa về chung sống lại; mâu thuẫn giữa bà H và ông H1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Biên bản xác minh ngày 19/3/2025 lời khai của bà H phù hợp kết quả xác minh về thời gian đôi bên ly thân, ông H1 liên tục vắng mặt không tạo cơ hội để hòa giải với bà H để tìm cách hàn gắn lại tình cảm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết, đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ngày 05 tháng 12 năm 2024 bà Lê Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn H1, ông H1 cư trú tại tổ A, ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa xét xử lần thứ nhất vào ngày 08/4/2025 bị đơn vắng mặt Tòa án đã hoãn phiên tòa theo Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 và tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn tiếp tục vắng mặt không lý do; riêng nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung: Bà H và ông H1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang vào ngày 02/12/2010 là quan hệ hôn nhân có giá trị pháp lý.
Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân giữa bà H và ông H1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Do mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng không thể hàn gắn được, bà H yêu cầu ly hôn. Trong suốt quá trình tiến hành tố tụng Toà án đã tạo điều kiện hoà giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông H1 vắng mặt suốt quá trình Toà án giải quyết vụ án là tự từ bỏ quyền lợi của mình. Xét về mâu thuẫn từ năm 2011, bà H và ông H1 đã bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, các bên đã ly thân từ năm 2011 cho đến nay bỏ mặc nhau tự sống, không còn tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau điều này phù hợp với kết quả Biên bản xác minh ngày 19/3/2025. Do đó, mâu thuẫn giữa bà H và ông H1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí:
Bà Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo mức án phí không có giá ngạch.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Hữu . Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Huỳnh Văn H1.
Giấy chứng nhận kết hôn số 52/2010 ngày 02/12/2010 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang không còn giá trị pháp lý.
Về án phí sơ thẩm:
Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012985 ngày 16-01-2025 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn. Bà Lê Thị H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tri Tôn; - THADS huyện Tri Tôn; - Các đương sự; - UBND xã Tân Thạnh, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Hừng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Hừng |