- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H - T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị Kim H đối với ông Nguyễn Thành T. Bà Ngô Thị Kim H được ly hôn với ông Nguyễn Thành T. Quan hệ hôn nhân giữa bà Ngô Thị Kim H và ông Nguyễn Thành T chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE ___________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24/4/2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Phương Châu
2. Ông Thái Hoàng Thi
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Việt – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 33/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Kim H, sinh năm 1991; Trú tại: Số A, khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1991 Trú tại: Số A, ấp P, thị trấn C (xã A cũ), huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, biên bản hòa giải, bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bà Ngô Thị Kim H trình bày:
Bà H và ông Nguyễn Thành T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A (nay là thị trấn C), huyện C, tỉnh Bến Tre vào năm 2018. Quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian đầu; sau đó đến đầu năm 2022 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung. Cả hai đã tìm nhiều cách để hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả và đã sống ly thân. Do không còn tình cảm với ông T nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Nguyễn Thành T, bà H không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng sau khi ly hôn.
Về con chung: Bà Ngô Thị Kim H yêu cầu nuôi 01 con chung tên Nguyễn Vũ Phương T1, sinh ngày 02/12/2018, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Thành T trình bày:
Đồng ý ly hôn với bà Ngô Thị Kim H, không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng sau ly hôn. Về con chung: Ông T yêu cầu nuôi 01 con chung tên Nguyễn Vũ Phương T1, sinh ngày 02/12/2018, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông T, không cấp dưỡng vợ chồng sau khi ly hôn. Về con chung: Bà H được quyền nuôi 01 con chung tên Nguyễn Vũ Phương T1, sinh ngày 02/12/2018; ghi nhận bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Ngô Thị Kim H có yêu cầu giải quyết vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, là phù hợp với Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn ông Nguyễn Thành T có nơi cư trú tại ấp P, thị trấn C (xã A cũ), huyện C, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Nguyễn Thành T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A (nay là thị trấn C), huyện C, tỉnh Bến Tre vào năm 2018 là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T. Tại biên bản xác minh ngày 14/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, bà Nguyễn Thị B (là dì ruột của bà H) trình bày: Hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, gia đình có khuyên nhưng không hàn gắn được. Tại biên bản xác minh ngày 07/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, bà Trần Thị Ngọc B1 (mẹ ruột ông T) trình bày: không rõ mâu thuẫn của hai vợ chồng là gì nhưng việc ly hôn thì do hai vợ chồng tự quyết định. Quá trình giải quyết vụ án, bà H cương quyết yêu cầu ly hôn và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải nhưng vắng mặt, tại phiên tòa ông T đồng ý ly hôn với bà H. Điều này cho thấy bà H và ông T đã từ bỏ mối quan hệ hôn nhân này, không thể hiện mong muốn được đoàn tụ vợ chồng, việc hàn gắn tình cảm cho bà H và ông T không có kết quả, mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng của bà H và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông T là phù hợp quy định pháp luật. Bà H, ông T tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn nên ghi nhận.
Về con chung: Bà H và ông T 01 con chung tên Nguyễn Vũ Phương T1, sinh ngày 02/12/2018, hiện đang sống với bà H. Bà Ngô Thị Kim H, ông Nguyễn Thành T đều yêu cầu nuôi con chung. Xét việc giao con cho ai nuôi cần xem xét mọi mặt về điều kiện vật chất và tinh thần, sự phát triển bình thường của đứa trẻ. Bà H hiện có thu nhập ổn định, đảm bảo điều kiện chăm sóc, giáo dục con chung. Để đảm bảo việc phát triển bình thường về vật chất, tâm lý và tinh thần cũng như ổn định về điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho con chung nên giao cháu Nguyễn Vũ Phương T1, sinh ngày 02/12/2018 cho bà Ngô Thị Kim H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Bà H tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H, ông T khai không có nên không xét đến.
Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà H phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị Kim H đối với ông Nguyễn Thành T. Bà Ngô Thị Kim H được ly hôn với ông Nguyễn Thành T. Quan hệ hôn nhân giữa bà Ngô Thị Kim H và ông Nguyễn Thành T chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ghi nhận bà Ngô Thị Kim H, ông Nguyễn Thành T không yêu cầu cấp dưỡng cho vợ chồng sau khi ly hôn.
2. Về con chung: Bà Ngô Thị Kim H được nuôi 01 con chung tên Nguyễn Vũ Phương T1, sinh ngày 02/12/2018. Ông Nguyễn Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Ngô Thị Kim H tự nguyện không yêu cầu.
Ông Nguyễn Thành T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên hoặc cơ quan tổ chức có thẩm quyền có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ngô Thị Kim H, ông Nguyễn Thành T khai không có nên không xét đến.
4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Ngô Thị Kim H phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai tạm ứng án phí số 0006525 ngày 10/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Bà Ngô Thị Kim H đã nộp xong án phí.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Đương sự; - UBND thị trấn Châu Thành (An Khánh); - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Minh Hiền |