- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật Tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21- 8-2025 V/v tranh chấp xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Thoa
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Huỳnh Thị Thùy Dương;
Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thảo Vy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết N - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số thụ lý số 61/2025/TLST-HNGĐ ngày 09/4/2025 về việc “tranh chấp xác định cha cho con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đàm Thị L, sinh năm 1999, địa chỉ: Nhà trọ N1, số nhà B, đường N, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố H, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1996, địa chỉ: Nhà trọ N1, số nhà B, đường N, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố H, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Đàm Thị L trình bày: Bà Đàm Thị L và ông Lê Quang Q đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã B, tỉnh Quảng Ngãi) năm 2017. Đến năm 2020, bà L và ông Q phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể giải quyết được nên tháng 4/2025, bà L và ông Q đã nộp đơn tại Tòa án nhân dân Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh) yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và được giải quyết bằng Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 169/2025/QĐCNTTLH ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Trong khoảng thời gian bà L và ông Q sống ly thân, bà L đã có quan hệ tình cảm với ông Trần Văn C, cả hai quyết định về sống chung, nhưng không tổ chức đám cưới và không đăng ký kết hôn. Qúa trình chung sống, bà L và ông C có 01 con chung là cháu Trần Khải Đ, sinh ngày 03/02/2024 tại Bệnh viện Đ1. Hiện bà L và ông C chưa đăng ký khai sinh được cho cháu Đ. Vì vậy, bà L đã khởi kiện yêu cầu Tòa án xác nhận ông C có quan hệ huyết thống cha con với cháu trai có tên là Trần Khải Đ, sinh ngày 03/02/2024 theo Giấy chứng sinh số 167, quyển số 167 ngày 05/02/2024 tại Bệnh viện Đ1. Đồng thời, bà L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn C trình bày: Từ tháng 11/2023, ông C có quen biết bà Đàm Thị L do làm chung công ty. Trong quá trình làm chung, ông C và bà L có nảy sinh tình cảm. Đến tháng 12/2024, ông C và bà L có một con chung là cháu Trần Khải Đ, sinh ngày 03/02/2024 tại Bệnh viện Đ1. Do chưa nắm rõ và thiếu hiểu biết pháp luật nên chưa làm được giấy khai sinh cho cháu Đ. Do đó, trước yêu cầu khởi kiện của bà L về việc xác nhận cháu trai do bà L sinh ra có tên dự định đặt là Trần Khải Đ, sinh ngày 03/02/2024, theo Giấy chứng sinh số 167, quyển số 167 ngày 05/02/2024 tại Bệnh viện Đ1 là con đẻ của ông C thì ông C hoàn toàn đồng ý và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Theo Phiếu kết quả phân tích ADN số 2421747 ngày 10/5/2025 của Công ty Cổ phần D – Chi nhánh phía Nam, kết luận: Ông Trần Văn C và cháu trai sinh ngày 03/02/2024, theo Giấy chứng sinh số 167, quyển số 167 ngày 05/02/2024 tại Bệnh viện Đ1, dự định đặt tên là Trần Khải Đ có quan hệ huyết thống cha - con.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự trong vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
Về nội dung: Căn cứ vào Phiếu kết quả phân tích ADN số 2421747 ngày 10/5/2025 của Công ty Cổ phần D – Chi nhánh phía Nam, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đàm Thị L về việc xác định cháu Trần Khải Đ là con đẻ của ông Trần Văn C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Đàm Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án xác nhận ông Trần Văn C có quan hệ huyết thống cha con với cháu trai có tên là Trần Khải Đ, sinh ngày 03/02/2024 theo Giấy chứng sinh số 167, quyển số 167 ngày 05/02/2024 tại Bệnh viện Đ1 nên Tòa án xác định đây là vụ án tranh chấp về việc xác định cha cho con theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Trần Văn C có nơi cư trú tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Về việc tham gia phiên tòa của các đương sự: Nguyên đơn bà Đàm Thị L và bị đơn ông Trần Văn C đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên nêu trên theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Khoảng cuối năm 2023, bà L đã quen biết và chung sống như vợ chồng với ông Trần Văn C. Ngày 03/02/2024, bà L sinh cháu trai có tên dự định đặt là Trần Khải Đ theo Giấy chứng sinh số 167, quyển số 167 ngày 05/02/2024 tại Bệnh viện Đ1, tỉnh Quảng Bình. Xét thấy, qua phần trình bày của bà L, ông C đã xác nhận cháu trai có tên dự định đặt Trần Khải Đ do bà L sinh ra là con đẻ của ông Trần Văn C. Theo Phiếu kết quả phân tích ADN số 2421747 ngày 10/5/2025 của Công ty Cổ phần D – Chi nhánh phía Nam kết luận: Ông Trần Văn C và cháu trai sinh ngày 03/02/2024, theo Giấy chứng sinh số 167, quyển số 167 ngày 05/02/2024 tại Bệnh viện Đ1, dự định đặt tên là Trần Khải Đ có quan hệ huyết thống cha - con.
Do đó, việc bà Đàm Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án xác nhận ông C có quan hệ huyết thống cha con với cháu trai do bà Đàm Thị L sinh ra với tên dự định đặt là Trần Khải Đ, sinh ngày 03/02/2024 theo Giấy chứng sinh số 167, quyển số 167 ngày 05/02/2024 tại Bệnh viện Đ1, tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) là có căn cứ chấp nhận, phù hợp quy định tại Điều 39 của Bộ luật Dân sự và Điều 88, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở.
Về án phí sơ thẩm: Bị đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều: 147, 227, 228, 238, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Căn cứ Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 88, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đàm Thị L đối với bị đơn ông Trần Văn C về việc “tranh chấp về xác định cha cho con”.
Xác định ông Trần Văn C là cha đẻ của cháu trai do bà Đàm Thị L sinh ra với tên dự định đặt là Trần Khải Đ, sinh ngày 03/02/2024 theo Giấy chứng sinh số 167, quyển số 167 ngày 05/02/2024 tại Bệnh viện Đ1, tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị).
2. Về án phí sơ thẩm: Ông Trần Văn C được miễn án phí sơ thẩm.
3. Các đương sự có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND Tp. Hồ Chí Minh - VKSND K – Tp. Hồ Chí Minh; - THADS Tp. Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Dương Thị Kim Thoa |