vanban.org

Bản án 32/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Huyền Gi đối với anh Võ Văn S:

1. Giao con chung là Võ Lê Đăng Khôi, sinh ngày 16/3/2014 cho chị Giang trực tiếp nuôi dưỡng, anh Sỹ không có nghĩa vụ phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "LÊ THỊ HUYỀN GI - VÕ VĂN S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Huyền Gi đối với anh Võ Văn S:
  • Căn cứ chính? Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC I
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23 -12 - 2025
V/v thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Quốc Tân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tiến và ông Trần Xuân Văn.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Nhật Lệ - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân - Gia đình thụ lý số: 114/2025/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Huyền Gi, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xóm 3, thôn Trần Xá, xã Quảng Ninh, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Võ Văn S, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số 02 đường Trần Thị Lý, Tổ dân phố Bắc Hồng, phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Lê Thị Huyền Gi trình bày:

Theo Quyết định số 25/2023/QĐCNTTLH ngày 06/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị), chị Giang và anh Sỹ ly hôn, con chung của chị Giang và anh Sỹ có 02 người con tên Võ Lê Đăng Khôi, sinh ngày 16/3/2014 và Võ Hùng Anh, sinh ngày 28/8/2016, hai bên đã thỏa thuận con Võ Lê Đăng Khôi giao cho anh Võ Văn S trực tiếp nuôi dưỡng, chị Giang trực tiếp nuôi dưỡng con Võ Hùng Anh, không bên nào cấp dưỡng tiền nuôi con cho bên nào.

Hiện nay chị Giang đang trực tiếp nuôi dưỡng con Võ Hùng Anh. Còn con Võ Lê Đăng Khôi hiện nay đang sống với bà nội là bà Thái Thị Hồng và đang cư trú tại địa chỉ 02 đường Trần Thị Lý, Tổ dân phố Bắc Hồng, phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị. Theo chị Giang được biết anh Sỹ hiện đi làm ăn xa nên không có thời gian, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con Võ Lê Đăng Khôi. Do vậy, để đảm bảo việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, chị Giang đề nghị Tòa án xem xét giao con Võ Lê Đăng Khôi cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị Giang không yêu cầu anh Sỹ cấp dưỡng tiền nuôi con.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhưng anh Sỹ không đến Tòa án để làm việc. Tuy nhiên, anh Sỹ có bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường Đồng Hới gửi đến Tòa án, theo đó anh Sỹ đồng ý với yêu cầu của chị Giang, giao con Võ Lê Đăng Khôi cho chị Giang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng vì anh đang đi làm ăn xa. Anh Sỹ cũng đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt anh. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 1 quyết định đưa vụ án ra xét xử để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân khu vực 1 nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Lê Thị Huyền Gi khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Bị đơn anh Võ Văn S hiện đăng ký thường trú trên địa bàn phường Đồng Hới, vì vậy Tòa án nhân dân khu vực 1 thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng được quy định tại khoản 3 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự .

Anh Võ Văn S (là bị đơn trong vụ án) đã có đơn xin xét xử vắng nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Sỹ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự,

Về giải quyết yêu cầu của đương sự:

Xét thấy cháu Võ Lê Đăng Khôi đang trong giai đoạn trưởng thành cần sự quan tâm gần gũi chia sẻ từ phía người mẹ. Tại Bản tự khai cháu Võ Lê Đăng Khôi trình bày hiện anh Sỹ đang đi làm ăn xa, không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu nên có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Mặt khác, tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt anh Sỹ cũng đồng ý giao cháu Võ Lê Đăng Khôi cho chị Giang chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của con, việc chị Giang yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Võ Lê Đăng Khôi là phù hợp với lợi ích của con và có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 81, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu Võ Lê Đăng Khôi cho chị Giang trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị Giang không yêu cầu anh Sỹ cấp dưỡng tiền nuôi con, nên anh Sỹ không phải có nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con cho chị Giang.

Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của chị Lê Thị Huyền Gi được Tòa án chấp nhận, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn anh Võ Văn S sẽ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, chị Giang tự nguyện nộp thay anh Sỹ tiền án phí dân sự sơ thẩm nên cần nghi nhận sự tự nguyện này của chị Giang.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo vụ án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 2 Điều 81, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Huyền Gi đối với anh Võ Văn S:

1.1. Giao con chung là Võ Lê Đăng Khôi, sinh ngày 16/3/2014 cho chị Giang trực tiếp nuôi dưỡng, anh Sỹ không có nghĩa vụ phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.

1.2. Quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con này thay thế Quyết định số 25/2023/QĐCNTTLH ngày 06/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị) về phần con chung đối với con Võ Lê Đăng Khôi.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ghị nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chị Lê Thị Huyền Gi tự nguyện nộp thay cho anh Võ Văn S án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 300.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị Giang đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0000509 ngày 07/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Chị Giang đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ