- Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty... — án kinh doanh thương mại — "Công ty T3 kiện M"
- Tòa quyết gì? I/Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty Cổ phần T3;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 64 Luật Doanh nghiệp
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2024/KDTM-PT Ngày: 12 - 6 - 2024 V/v: “Tranh chấp giữa thành viên của công ty với nhau liên quan đến hoạt động và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Phạm Thị Duyên
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tửu
Ông Hà Huy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 89/2023/TLPT-KDTM ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp giữa thành viên của công ty với nhau liên quan đến hoạt động và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 09/2023/KDTM-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 260/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T3.
Trụ sở tại: Số A đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Thanh B – Chức danh Trưởng phòng Nhân sự - Hành chính Công ty Cổ phần T3 (có mặt).
Địa chỉ: Số A đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản ủy quyền ngày 15/4/2022).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Trúc A – Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
- Bị đơn: M
Trụ sở: 33, J, K, Taman Intan, 41300 Klang, S, Malaysia. Địa chỉ Văn phòng đại diện: C đường T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Dương Trần Cát V, sinh năm 1991 (có mặt);
Địa chỉ: số C đường P, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Hà Thị Kim L - Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn T, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Địa chỉ liên lạc: Số C, đường số F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn T:
- Ông Thái Nguyên L1 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số A đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Hoàng Thị M (có mặt);
Địa chỉ: Số B L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH ) Industries
Trụ sở: Lô J, đường N, Khu công nghiệp N mở rộng, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH M:
- Ông Tong Chin H, sinh năm 1956
Địa chỉ: A J, D K, Malaysia.
Người đại diện hợp pháp của ông Tong Chin H:
- Bà Nguyễn Thị Như A1, sinh năm 1991 (xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số E B, đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn T, sinh năm 1968 (vắng mặt).
Địa chỉ liên lạc: số C đường số F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn T:
- Ông Thái Nguyên L1 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số A đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Hoàng Thị M (có mặt);
Địa chỉ: Số B L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Công ty Cổ phần T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày:
Năm 2013, Công ty Cổ phần T3 (tên viết tắt là VIPESCO) và M (tên viết tắt là MISB) cùng góp vốn thành lập Công ty TNHH M (tên viết tắt là MVI). Trong đó, mỗi bên nắm giữ phần vốn góp với tỷ lệ 50% vốn điều lệ. Điều 14 Điều lệ của MVI quy định mỗi 2 năm, hai bên sẽ luân phiên chỉ định Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc. Thời hạn mỗi thành viên tham gia Hội đồng thành viên là 04 năm. Bên chỉ định thành viên có quyền thay thế thành viên khác vào bất kỳ thời điểm nào, bằng văn bản báo trước cho bên kia 30 ngày.
Trong nhiệm kỳ 2019-2020 (từ 01/01/2019 đến 31/12/2020), V1 cử các đại diện giữ vị trí Phó Chủ tịch Hội đồng thành viên và Tổng Giám đốc của MVI theo đúng quy định của Điều lệ MVI. Cụ thể:
Các đại diện của MISB:
Chủ tịch Hội đồng thành viên MVI: Ông Tong Chin H
Thành viên Hội đồng thành viên MVI: Ông Siow Chin H1
Phó TGĐ MVI: Ông Đỗ Quang M1
Các đại diện của V1:
Phó Chủ tịch Hội đồng thành viên M2: Ông Nguyễn Thân
Thành viên Hội đồng thành viên MVI: Ông Thái N Luật
Tổng giám đốc: Ông Bùi Văn Đ (đến ngày 18/5/2020) và ông Nguyễn T (từ ngày 19/5/2020).
Đến hết năm 2020, cả hai đại diện của V1 là ông Nguyễn T và ông Thái N Luật đều hết nhiệm kỳ là thành viên Hội đồng thành viên. Đồng thời, nhiệm kỳ giữ vị trí Tổng Giám đốc tại MVI của V2 cũng đã chấm dứt.
+ Đầu năm 2021, MISB đề nghị Vipesco hỗ trợ trong việc điều hành MVI (với lý do ảnh hưởng của dịch C) nên V1 đã tiếp tục giữ vị trí Phó Chủ tịch Hội đồng thành viên và Tổng Giám đốc của MVI mặc dù đã hết nhiệm kỳ theo Điều lệ, như đã đề cập ở mục 3 nói trên căn cứ theo Biên bản họp Hội đồng thành viên MVI ngày 15/12/2020.
+ Ngày 09/04/2021, các thành viên Hội đồng thành viên của MVI đã họp và thống nhất các nội dung liên quan đến chỉ định nhân sự và dự kiến các vị trí quản lý của MVI (Biên bản họp Hội đồng thành viên MVI ngày 09/04/2021).
Ngày 14/4/2021, Hội đồng thành viên của MVI đã họp và biểu quyết thống nhất 100% về các vấn đề: (i) Cả hai bên đồng ý với đề cử và thống nhất bầu Hội đồng thành viên với tỷ lệ 4/4 đồng ý, cụ thể như sau (tham chiếu ghi âm):
Ông Trần Thanh B: Chủ tịch của Hội đồng thành viên của MVI
Ông Trần Duy Q: Phó Chủ tịch của Hội đồng thành viên của MVI
Ông Daniel Dee W: Thành viên Hội đồng thành viên của MVI
Ông Bùi Minh P: Thành viên Hội đồng thành viên của MVI; và
(ii) Hội đồng thành viên biểu quyết với tỷ lệ 4/4 đồng ý việc miễn nhiệm ông Nguyễn Thân t ngày 12/4/2021. Hội đồng thành viên nhờ ông Nguyễn T hỗ trợ về việc ký các chứng từ ngân hàng sau khi được Ban Tổng Giám đốc mới chấp thuận cho tới ngày 21/4/2021.
Các bên chưa đạt được thống nhất về việc chỉ định Tổng Giám đốc mới của MVI.
+ Như vậy, kể từ ngày 14/4/2021, ông Nguyễn T đã không còn là Tổng Giám đốc của MVI, với các lý do: đã hết nhiệm kỳ Tổng Giám đốc; đã hết nhiệm kỳ thành viên Hội đồng thành viên của MVI; hợp đồng lao động của ông Nguyễn T với MVI đã chấm dứt hiệu lực; và Hội đồng thành viên của MVI đã thống nhất miễn nhiệm ông Nguyễn T khỏi vị trí Tổng giám đốc với tỷ lệ 4/4 (100%).
Đến hết ngày 21/4/2021, ông Nguyễn T chấm dứt việc hỗ trợ MVI về việc ký các chứng từ ngân hàng. Sau ngày 14/4/2021, MISB không thực hiện nghĩa vụ chỉ định nhân sự giữ vị trí Tổng Giám đốc theo Điều lệ và cho đến hiện tại MISB liên tục tìm mọi lý do để trốn trách thực hiện nghĩa vụ này.
+ Theo Điều 6 Điều lệ MVI, Tổng Giám đốc là một trong hai người đại diện theo pháp luật của Công ty. Do MISB nhiều lần từ chối chỉ định nhân sự giữ vị trí Tổng Giám đốc, MVI không có Tổng Giám đốc điều hành từ sau ngày 14/4/2021 đến nay. Cũng do không có Tổng Giám đốc, Công ty M2 đã gặp phải nhiều khó khăn, cản trở và không thể hoạt động được: MVI không thể triển khai các hoạt động kinh doanh; MVI không có nguồn tiền để thanh toán các khoản nợ cho đối tác, khách hàng; Do không thể kinh doanh, MVI không thể tạo ra công ăn việc làm cũng như không có nguồn tiền đề chi trả lương, bảo hiểm xã hội cho hơn 210 người lao động của công ty; MVI không có người đại diện ký bất kỳ hồ sơ, văn bản, tài liệu nào, cả văn bản nội bộ lẫn văn bản khác với khách hàng, đối tác, cơ quan nhà nước…
Hiện tại, MVI đang bị triệu tập với tư cách là bị đơn trong các vụ án với các công ty Công ty TNHH P, Công ty TNHH C, Công ty TNHH C và với người lao động với các yêu cầu: Thanh toán các khoản tiền theo các hợp đồng với khách hàng, đối tác; thanh toán các khoản phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại với khách hàng, đối tác; thanh toán tiền lương, đóng các khoản bảo hiểm xã hội, chi trả các khoản phúc lợi khác cho người lao động từ sau ngày 14/4/2021 và thanh toán các khoản lãi chậm trả phát sinh từ các nghĩa vụ nói trên.
+ Đến hết ngày 31/12/2021, báo cáo tài chính từ Kế toán trưởng Công ty M2 cho thấy Công ty M2 đã thua lỗ trong năm 2021 lên đến 26.998.565.302 đồng. Trong đó số lỗ phát sinh từ tháng 4/2021 đến 31/12/2021 là 21.556.470.234 đồng (Báo cáo tài chính đến ngày 31/12/2021 ký bởi Kế toán trưởng Công ty M2). Sự vô trách nhiệm của M3 đã dẫn đến người lao động của MVI lâm vào tình trạng hết sức khó khăn, công ty M2 thiệt hại nghiêm trọng về tài sản đồng thời Vipesco cũng phải gánh chịu tổn thất nghiêm trọng về đầu tư.
Do chỉ nắm giữ phần vốn góp chiếm tỷ lệ 50% vốn điều lệ và hiện tại không giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng thành viên, V1 chỉ có thể đề nghị MISB phối hợp, hợp tác giải quyết vấn đề. Mặc dù V1 đã gửi rất nhiều email và văn bản đề nghị MISB tuân thủ quy định tại Điều lệ, sớm chỉ định nhân sự để ổn định hoạt động của MVI nhưng đến nay MISB luôn tìm cớ thoái thác.
Ngày 20/4/2021 và 24/4/2021 V1 liên tục gửi các văn bản đến MISB đề nghị ký Biên bản họp Hội đồng thành viên MVI theo đúng nội dung đã họp (Các công văn của Vipesco gửi đến MISB). Ngày 11/3/2021, 06/4/2021, 20/4/2021, 26/4/2021, 03/5/2021, 11/5/2021, 13/5/2021, 20/5/2021, 21/5/2021, 27/5/2021, 09/6/2021, 18/6/2021, 28/6/2021, 01/7/2021, 22/9/2021, 29/9/2021, 04/10/2021, 21/10/2021, 02/12/2021 và 03/12/2021 V1 liên tục gửi các văn bản đến MISB đề nghị tuân thủ Điều lệ MVI về việc cử nhân sự giữ vị trí Tổng Giám đốc (Các công văn của V1 gửi đến MISB đề nghị chỉ định nhân sự giữ vị trí Tổng Giám đốc MVI)
Ngày 20/5/2021, 15/6/2021, 17/6/2021, 18/6/2021, 01/7/2021, 06/7/2021, 14/7/2021, 31/7/2021, 05/8/2021, 11/8/2021, 22/9/2021 V1 liên tục gửi các văn bản đến MISB và MVI đề nghị giải quyết các vấn đề cho người lao động, giải quyết tiền điện, nước, chi phí bảo vệ cho Công ty M2 (Các công văn của V1 gửi đến MISB và MVI đề nghị giải quyết các vấn đề liên quan) nhưng MISB không thực hiện.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Buộc Công ty M4. BHD (MISB) tuân thủ đúng quy định của Điều 14 Điều lệ Công ty TNHH M (MVI): nhanh chóng chỉ định nhân sự giữ vị trí Tổng Giám đốc của Công ty TNHH M để Công ty tiếp tục hoạt động.
2. Buộc Công ty M4. BHD bồi thường cho Công ty Cổ phần T3 50% giá trị toàn bộ thiệt hại xảy ra đối với MVI do Công ty M4. BHD đã không tuân thủ quy định tại Điều lệ MVI là 50% x 18.415.613.959 đồng. Trong đó, 18.415.613.959 đồng là thiệt hại của MVI tạm tính từ tháng 5/2021 đến hết ngày 31/12/2021 (đã sửa đổi lại thông tin theo đơn khởi kiện là năm 2020).
3. Công ty Cổ phần T3 bảo lưu quyền yêu cầu MISB bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra cho MVI tính từ ngày 01/01/2022 đến thời điểm MVI chính thức ổn định hoạt động.
Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn xin rút lại hai yêu cầu số (1) và số (3).
Bị đơn trình bày: Thống nhất ý kiến của nguyên đơn về việc bị đơn có thỏa
thuận cùng nguyên đơn góp vốn thành lập Công ty M2. Trong đó, mỗi bên nắm giữ phần vốn góp với tỷ lệ 50% vốn điều lệ và thống nhất Điều 14 Điều lệ của Công ty M2.
Do năm 2020 xảy ra dịch COVID nên MISB có đề nghị Vipesco hỗ trợ tiếp tục giữ vị trí Phó Chủ tịch hội đồng thành viên và Tổng giám đốc của MVI mặc dù đã hết nhiệm kỳ theo Điều lệ. Căn cứ vào Biên bản họp Hội đồng thành viên MVI ngày 15/12/2020, Hội đồng thành viên của MVI đã đồng ý với đề nghị của MISB: không thay đổi vị trí Chủ tịch hội đồng thành viên và Tổng giám đốc của MVI trong năm 2021 và mỗi 03 tháng sẽ xem xét hiệu quả của Hội đồng thành viên và Ban Giám đốc. Theo sự thống nhất này, Chủ tịch Hội đồng thành viên và Tổng giám đốc của MVI của nhiệm kỳ trước (nhiệm kỳ sẽ kết thúc ngày 31/12/2020) sẽ không thay đổi trong năm 2021, hay nói cách khác, Chủ tịch Hội đồng thành viên và Tổng giám đốc đang đương nhiệm sẽ tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ tương ứng đến hết năm 2021. Điều đó có nghĩa là, nhân sự do MISB cử làm Chủ tịch Hội đồng thành viên (lúc này là ông Tong Chin H) tiếp tục giữ vị trí Chủ tịch Hội đồng thành viên MVI và nhân sự do V1 cử làm Tổng giám đốc (lúc này là ông Nguyễn T) tiếp tục giữ vị trí Tổng giám đốc MVI đến hết năm 2021. Các thành viên tham gia cuộc họp đã hoàn toàn nhất trí với nội dung nêu trên, trong đó có sự hiện diện và đồng ý biểu quyết của ông Nguyễn Thân . Dựa trên Biên bản họp này, Hội đồng thành viên MVI đã ra Quyết định số 465/20/QĐ-MVI-HĐTV ngày 15/12/2020 bổ nhiệm ông Nguyễn T giữ chức vụ Tổng giám đốc MVI từ ngày 01/01/2021 đến 31/12/2021. Theo quy định tại điểm k khoản 3 Điều 23 Điều lệ MVI quy định Tổng giám đốc có các quyền và nhiệm vụ khác được quy định trong Hợp đồng lao động mà Tổng giám đốc ký với Công ty và theo quyết định của Hội đồng thành viên.
Như vậy, hai thành viên của MVI là V1 và MISB đã cam kết rằng, MISB tiếp tục cử nhân sự làm Chủ tịch Hội đồng thành viên cho đến hết năm 2021, tương ứng V1 tiếp tục cử nhân sự làm Tổng giám đốc đến hết năm 2021.
Do vậy, khi nhân sự do một thành viên cử không tiếp tục làm việc cho MVI thì thành viên đó phải có trách nhiệm thực hiện quyết định của Hội đồng thành viên (cũng là cam kết của các thành viên) ngày 15/12/2020. Điều đó có nghĩa là thành viên đó phải tìm nhân sự khác thay thế vị trí do mình cử với điều kiện là nhân sự giữ vị trí Tổng giám đốc trong năm 2021 là do V1 cử, nhân sự giữ vị trí Chủ tịch Hội đồng thành viên trong năm 2021 do MISB cử. Cụ thể, trong trường hợp ông Nguyễn T muốn chấm dứt Hợp đồng lao động trước thời hạn, không tiếp tục giữ vị trí Tổng giám đốc MVI đến hết năm 2021 thì V1 có trách nhiệm cử nhân sự khác giữ vị trí Tổng giám đốc MVI cho đến hết năm 2021.
Tuy nhiên, trên thực tế, khi ông Nguyễn T tuyên bố chấm dứt Hợp đồng lao động trước thời hạn và rời khỏi vị trí Tổng giám đốc kể từ ngày 12/4/2021, V1 đã không cử nhân sự khác thay thế và tiếp nhận vị trí Tổng giám đốc MVI. Điều đó cho thấy rằng, V1 đã không thực hiện cam kết ngày 15/12/2020, thành viên V1 không tuân thủ Quyết định ngày 15/12/2020 của Hội đồng thành viên. Như vậy, tình trạng MVI không có Tổng giám đốc là lỗi của V1.
Thêm vào đó, xét Biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 14/4/2021, đại diện thành viên MISB, ông Tong Chin H, không đồng ý miễn nhiệm ông Nguyễn T khỏi vị trí Tổng giám đốc khi chưa bầu được Tổng giám đốc khác thay thế. Qua cuộc họp cũng thấy rằng, ông Nguyễn T đã rời bỏ vị trí Tổng giám đốc từ ngày 12/4/2021 và tránh né không tham gia cuộc họp ngày 14/4/2021 để giải quyết vấn đề khuyết vị trí Tổng giám đốc mặc dù ông Nguyễn T là người đại diện phần vốn góp của V1 tại MVI, là người đại diện thực hiện các quyền và nghĩa vụ của thành viên Vipesco tại MVI.
Cuộc họp Hội đồng thành viên ngày 14/4/2021 cũng cho thấy được sự cố gắng của MISB khi V1 không thực hiện đúng cam kết (không cử Tổng giám đốc cho đến hết năm 2021). Theo đó, BISB đề xuất phương án để ông Đỗ Quang M1, phó tổng giám đốc giữ vị trí Tổng giám đốc. Tuy nhiên, V1 viện lý do không có hồ sơ cá nhân của ông Đỗ Quang M1 nên chỉ đồng ý bổ nhiệm ông Đỗ Quang M1 giữ vị trí Tổng giám đốc của MVI đến 31/05/2021 (1,5 tháng), điều này dẫn đến việc ông Đỗ Quang M1 không đồng ý nhận vị trí Tổng giám đốc này. Sự kiện trên đã giải thích cho ý chí của ông Tong Chin H tại cuộc họp: không đồng ý miễn nhiệm ông Nguyễn T khỏi vị trí Tổng giám đốc MVI khi chưa có nhân sự khác thay thế. Do đó, ông Nguyễn T vẫn là Tổng giám đốc MVI.
Vipesco đã không thực hiện cam kết cử Tổng giám đốc theo nội dung cuộc họp Hội đồng thành viên cho đến hết năm 2021 đồng thời cũng gây khó khăn với phương án nhân sự mà MISB đề xuất để giải quyết vấn đề của ông Nguyễn T (nhân sự do V1 cử) không tuân thủ sự đề cử của đơn vị chủ quản, không quan tâm đến cam kết của thành viên do chính ông Nguyễn T đại diện giao kết vào ngày 15/12/2021. Một lần nữa, tình trạng MVI không có Tổng giám đốc vẫn là lỗi của V1.
Bên cạnh đó, ông Nguyễn T sau khi rời khỏi vị trí công việc nhưng không bàn giao quyền quản lý tài khoản ngân hàng của MVI, không bàn giao quyền nhận mã OTP khi thực hiện chi từ tài khoản (vốn do Tổng giám đốc, đại diện theo pháp luật của MVI nắm giữ). Nói cách khác, ông Nguyễn T về thực tế vẫn không rời bỏ và vẫn khống chế, chiếm giữ quyền của Tổng giám đốc MVI. MVI không thể thực hiện các khoản chi tiền nếu không có sự đồng ý của ông Nguyễn T, không có được mã OTP chỉ được ngân hàng gửi đến số điện thoại của ông Nguyễn Thân . Điều đó giải thích cho lý do của tình trạng nợ lương đối với nhân viên, người lao động của MVI khi ông Nguyễn T không đồng ý thực hiện việc chi trả.
Ngoài ra, ông Nguyễn T cũng không bàn giao con dấu MVI khi rời khỏi vị trí Tổng giám đốc dẫn đến MVI không có con dấu hoạt động. Trong tình huống đó, dù có nhân sự tạm quyền Tổng giám đốc cũng không thực hiện được quyền và nghĩa vụ của Tổng giám đốc.
Từ các nội dung nêu trên, có thể xác định rằng, các khó khăn hiện tại của MVI đều xuất phát từ ông Nguyễn Thân . Trong khi đó, ông Nguyễn T là đại diện theo pháp luật của V1 đồng thời là người đại diện phần vốn góp của V1 trong MVI. Do đó, nếu xem ông Nguyễn T là tách biệt với V1 thì người gây thiệt hại cho MVI dẫn đến thiệt hại cho các thành viên góp vốn vào MVI chính là cá nhân ông Nguyễn T; còn nếu xem ông Nguyễn T là đại diện theo pháp luật của V1, là đại diện thành viên góp vốn vào MVI, tức là ông Nguyễn T cũng chính là V1 thì có thể nói V1 đã gây thiệt hại cho MVI, từ đó tự gây thiệt hại cho chính mình và làm liên lụy, gây thiệt hại cho thành viên còn lại của MVI chính là MISB. Tóm lại, các thiệt hại của MVI không phải do MISB gây ra.
Bị đơn đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn xin rút lại toàn bộ yêu cầu phản tố:
1. Buộc nguyên đơn phải bồi thường cho bị đơn 50% giá trị toàn bộ thiệt hại xảy ra đối với Công ty TNHH M (MVI) do Công ty Cổ phần T3 đã vi phạm thỏa thuận tại Biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 15/12/2020 và không có biện pháp khắc phục khi nhân sự mà họ chỉ định không thực hiện đúng cam kết của nguyên đơn, cụ thể là 50% x 18.415.613.959 đồng = 9.207.806.980 đồng.
2. Bị đơn bảo lưu quyền yêu cầu nguyên đơn bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra cho Công ty TNHH M tính từ ngày 01/01/2022 đến thời điểm MVI chính thức ổn định hoạt động.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn T và đại diện hợp pháp của Công ty M2 (do ông Thái N Luật đại diện): Thống nhất ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đại diện hợp pháp của Công ty M2 (do bà Nguyễn Thị Như A1 đại diện) có yêu cầu xét xử vắng mặt và có bản tự khai trình bày: Thống nhất ý kiến bị đơn.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 09/2023/KDTM-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần T3 về việc buộc bị đơn M tuân thủ đúng quy định của Điều 14 Điều lệ Công ty TNHH M (MVI): nhanh chóng chỉ định nhân sự giữ vị trí Tổng Giám đốc của Công ty TNHH M để Công ty tiếp tục hoạt động và bảo lưu quyền yêu cầu MISB bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra cho MVI tính từ ngày 01/01/2022 đến thời điểm MVI chính thức ổn định hoạt động.
- Đình chỉ toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn M về việc buộc nguyên đơn phải bồi thường 50% giá trị toàn bộ thiệt hại xảy ra đối với Công ty TNHH M với số tiền 9.207.806.980 đồng và bảo lưu quyền yêu cầu nguyên đơn bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra cho Công ty TNHH M tính từ ngày 01/01/2022 đến thời điểm MVI chính thức ổn định hoạt động.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần T3 về việc buộc bị đơn M phải bồi thường thiệt hại với số tiền 9.207.806.979 đồng (chín tỷ, hai trăm lẻ bảy triệu, tám trăm lẻ sáu nghìn, chín trăm bảy mươi chín đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/9/2023 nguyên đơn Công ty Cổ phần T3 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Công ty Cổ phần T3 (có ông Trần
Thanh B là đại diện theo ủy quyền) vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Bị đơn M (có ông Dương Trần Cát V là đại diện theo ủy quyền) không đồng ý yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Trong phần tranh luận:
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu: Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng 02 biên bản họp năm 2021 chưa xác định được việc miễn nhiệm Tổng giám đốc Nguyễn T nên chưa ban hành Nghị quyết, nhưng quy trình ban hành Nghị quyết phụ thuộc vào Chủ tịch Hội đồng thành viên nên cần phải xem xét đến nội dung trong 02 biên bản đó, thể hiện các bên đã thống nhất miễn nhiệm ông T, cần phải bổ nhiệm Tổng giám đốc mới và vấn đề ký bàn giao của ông T. Việc không ra được Nghị quyết là do lỗi của bị đơn
Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng trách nhiệm bổ nhiệm Tổng giám đốc mới của nguyên đơn là không đúng. Biên bản họp và Nghị quyết của Hội đồng thành viên không thể nào thay thế được Điều lệ công ty. Trong các mail gửi nguyên đơn đều có đề xuất đề nghị bị đơn bàn giao và đề xuất cử Tổng giám đốc, và phía MISB đã có hối thúc nguyên đơn bàn giao con dấu. Đã có chứng cứ rõ ràng thể hiện 2 bên thừa nhận khoản lỗ 18.415.613.959 đồng, đó là thiệt hại của nguyên đơn
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Theo Điều lệ MISB thì Tổng giám đốc là người điều hành hoạt động công ty. Nếu không có Tổng giám đốc thì không ký được văn bản, không thực hiện được hợp đồng lao động, không trả lương được với người lao động.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn phát biểu: Tại trang cuối biên bản ngày 14/4/2021 ông Tong Chi H2 đã xác định chưa kết luận được điều gì nên không thể căn cứ vào 02 biên bản họp năm 2021 để xác định đã miễn nhiệm chức vụ của ông T . Liên quan đến trách nhiệm về việc bổ nhiệm thì V1 và MISB đã thể hiện rõ ở Điều lệ công ty. Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn không chứng minh được lỗi của bị đơn, còn xét về thiệt hại thì nguyên đơn chưa phát sinh thiệt hại, mặt khác nếu có thiệt hại thì thiệt hại là của bị đơn chứ không phải nguyên đơn. Nguyên đơn không đưa ra được tài liệu nào để chứng minh có thiệt hại, nên con số bồi thường mà nguyên đơn đưa ra là không có căn cứ. Vì xác định không có thiệt hại nên bị đơn không có lỗi. Nếu trong trường hợp công ty có thiệt hại thì phải được thực hiện sau khi công ty T4. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Theo tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thì đã có đủ căn cứ xác định do không có Tổng giám đốc nên ảnh hưởng đến việc điều hành, hoạt động của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm buộc bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn số tiền 9.207.806.979 đồng là 50% thiệt hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các chứng cứ thu thập tại hồ sơ vụ án, và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn Công ty Cổ phần T3 (V2) khởi kiện yêu cầu bị đơn là M (MISB) phải bồi thường cho nguyên đơn số tiền là 9.207.806.979 đồng, do hành vi của các thành viên đại diện cho công ty B1 tại Công ty TNHH M (MVI) không tuân thủ theo thỏa thuận của 02 bên nguyên đơn và bị đơn, đã dẫn đến việc MVI (là công ty được thành lập bởi 50% vốn góp của mỗi bên nguyên đơn, bị đơn) bị thua lỗ số tiền là 18.415.613.959 đồng, trong khoảng thời gian từ tháng 5/2021 đến tháng 12/2021. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là thiệt hại của MVI thể hiện trong các báo cáo tài chính từ tháng 5/2021 đến tháng 12/2021, đã được nguyên đơn và bị đơn xác nhận. Chứng cứ thể hiện thiệt hại này là do lỗi của bị đơn là Điều 14 Điều lệ công ty M2 và các biên bản họp Hội đồng thành viên MVI vào các ngày 15/12/2020, 09/4/2021 và 14/4/2021.
Bị đơn M (MISB) không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do: Bị đơn xác nhận phần trình bày của nguyên đơn về việc thành lập MVI, các báo cáo kinh doanh năm 2019, 2020, 2021 và các biên bản họp Hội đồng thành viên MVI do nguyên đơn cung cấp là đúng. Tuy nhiên, các chứng cứ trên không thể hiện lỗi của bị đơn gây ra thiệt hại cho MVI.
Bản án sơ thẩm nhận định:
Điều 14 Điều lệ MVI quy định: “VIPESCO và MISB luân phiên cử người đảm nhận 04 chức danh: Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc và Phó Tổng giám đốc với quy ước khi một bên cử đại diện làm Chủ tịch Hội đồng thành viên và Phó Tổng giám đốc thì bên còn lại cử người làm Phó Chủ tịch Hội đồng thành viên và Tổng giám đốc. Mỗi 2 năm, các bên sẽ luân phiên chỉ định các vị trí trên”. Trong nhiệm kỳ 2019-2020 (từ 01/01/2019 đến 31/12/2020) thì đại diện của hai bên trong MVI gồm có:
Các đại diện của MISB:
Chủ tịch Hội đồng thành viên MVI: Ông Tong Chin H
Thành viên Hội đồng thành viên MVI: Ông Siow Chin H1
Phó Tổng giám đốc MV: Ông Đỗ Quang M1
Các đại diện của V1:
Phó Chủ tịch Hội đồng thành viên M2: Ông Nguyễn Thân
Thành viên Hội đồng thành viên MVI: Ông Thái N Luật
Tổng giám đốc: Ông Bùi Văn Đ (đến ngày 18/5/2020) và ông Nguyễn T (bổ nhiệm từ ngày 19/5/2020).
Theo Biên bản họp Hội đồng thành viên MVI ngày 15/12/2020, Hội đồng thành viên của MVI đã đồng ý với đề nghị của MISB do tình hình dịch bệnh Covid nên không thay đổi vị trí Chủ tịch hội đồng thành viên và Tổng giám đốc của MVI trong năm 2021 và mỗi 03 tháng sẽ xem xét hiệu quả của Hội đồng thành viên và Ban Giám đốc. Cùng ngày 15/12/2020, Hội đồng thành viên của MVI ban hành Quyết định số 465/2020/QĐ-MVI-HĐTV bổ nhiệm ông Nguyễn T giữ chức vụ Tổng giám đốc MVI từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/12/2021.
Ông Nguyễn Thân k hợp đồng lao động với MVI thời hạn 01 năm từ ngày 18/5/2020 đến ngày 18/5/2021. Tuy nhiên đến ngày 31/3/2021, ông T có đơn đề nghị chấm dứt hợp đồng lao động trước hạn (hạn cuối là ngày 12/4/2021) do phải tập trung làm việc tại VIPESCO nhưng hai bên không thống nhất được nên phát sinh tranh chấp.
Nguyên đơn cho rằng căn cứ các Biên bản họp ngày 09/4/2021 và ngày 14/4/2021 thì Hội đồng thành viên MVI đã thống nhất biểu quyết miễn nhiệm Tổng giám đốc MVI đối với ông Nguyễn Thân t ngày 12/4/2021 nhưng bị đơn không cử người đại diện giữ vị trí Tổng Giám đốc nên MVI không có Tổng Giám đốc điều hành từ tháng 5/2021 đến hết ngày 31/12/2021 là có lỗi gây thiệt hại 18.415.613.959 đồng nên yêu cầu nguyên đơn phải bồi thường 50% thiệt hại là 9.207.806.980 đồng. Bị đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn vì cho rằng trong Biên bản họp ngày 09/4/2021 và ngày 14/4/2021 thì đại diện MISB không thống nhất miễn nhiệm Tổng giám đốc MVI đối với ông Nguyễn T và MISB đã đề cử Tổng Giám đốc mới là ông M1 nhưng nguyên đơn không chấp nhận là lỗi của nguyên đơn nên không chấp nhận việc bồi thường.
Xét, các biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 09/4/2021 và 14/4/2021:
*Biên bản họp ngày 09/4/2021 ghi nhận thành phần tham dự phía MISB có ông T1 Chin Hen là Chủ tịch Hội đồng thành viên và thành viên là ông Siow Chin H1 và phía VIPESCO có ông Trần Thanh B đại diện ủy quyền của ông Nguyễn T (phó Chủ tịch Hội đồng thành viên/ Tổng giám đốc) và thành viên là ông Thái Nguyên L1, phía MVI có ông Đỗ Quang M1 - Phó Tổng giám đốc, bà Phan Thị Lệ T2 – Kế toán trưởng. Biên bản họp đã ghi nhận ý kiến của các bên như sau:
Ông T1 đại diện MISB trình bày: “Đề cử ông Đỗ Quang M1 giữ vị trí Tổng giám đốc MVI, ông Nguyễn T vẫn sẽ ký cho đến khi hoàn thiện giấy thay đổi tên người đại diện theo pháp luật của MVI, ông T nộp hồ sơ quá gấp rút nên ông T vẫn phải hỗ trợ MVI ký những giấy tờ trong giai đoạn chờ Giấy đăng ký kinh doanh mới.”
Ông L1 đồng ý với đề xuất của ông T đề cử ông Đỗ Quang M1 giữ vị trí Tổng giám đốc MVI. Ông B có ý kiến: “Việc bổ nhiệm Tổng giám đốc, cuộc họp hôm nay sẽ thống nhất bổ nhiệm ông M1 theo đề cử của MISB. Phải có quyết định bổ nhiệm từ Hội đồng thành viên và phải đẩy nhanh tiến trình để kịp ngày 12.4. Phải có quyết định miễn nhiệm ông T và quyết định bổ nhiệm ông M1 cùng thời điểm. Các phòng ban MVI phải chuẩn bị hồ sơ để chuyển đổi người đại diện theo pháp luật (thời hạn làm thủ tục thay đổi dự kiến 7 ngày).”.
Theo nội dung nêu trên thì các bên đã không biểu quyết thông qua được quyết định về việc miễn nhiệm Tổng giám đốc MVI đối với ông Nguyễn T theo quy định khoản 1 Điều 18 Điều lệ MVI, nhưng đã thể hiện ý kiến thống nhất của các bên là phía MISB đề cử ông Đỗ Quang M1 (đang làm Phó Tổng giám đốc) giữ vị trí Tổng giám đốc MVI thay thế ông Nguyễn T, ông T sẽ hỗ trợ MVI ký những giấy tờ trong giai đoạn chờ Giấy đăng ký kinh doanh mới, hai bên sẽ quyết định miễn nhiệm ông T, và quyết định bổ nhiệm ông M1 vào cùng một thời điểm. Sau cuộc họp ngày 09/4/2021 thì Hội đồng thành viên cũng không ban hành được Nghị quyết, nên không có căn cứ xác định Hội đồng thành viên đã biểu quyết miễn nhiệm Tổng giám đốc MVI đối với ông Nguyễn Thân t ngày 12/04/2021.
*Đối với Biên bản họp ngày 14/4/2021, thành phần tham dự phía MISB có ông Tong Chin H, ông Siow Chin H1 và phía VIPESCO có ông Trần Thanh B đại diện ủy quyền của ông Nguyễn T (phó Chủ tịch Hội đồng thành viên/ Tổng giám đốc) và ông Thái Nguyên L1, phía MVI có ông Đỗ Quang M1 - Phó Tổng giám đốc, bà Phạm Thị H3 – Trưởng phòng kế hoạch tổng hợp và bà Phan Thị Lệ T2 – Kế toán trưởng. Biên bản họp đã ghi nhận ý kiến của các bên tại phần 2.1 về việc miễn nhiệm chức danh Tổng giám đốc với ông Nguyễn T như sau:
Ông T1 có ý kiến: “... đề xuất ông T phải chịu trách nhiệm ký các tài liệu cho đến khi có giấy phép mới, về trách nhiệm pháp lý trên giấy phép ông T vẫn phải chịu trách nhiệm” (trang 3, 7). Ông B có ý kiến: “Ông T đồng ý hỗ trợ ký cho đến hết ngày 21/4/2021 nhưng ông T1 không đồng ý việc hỗ trợ mà yêu cầu phải có trách nhiệm.”.
Tại trang 8 Biên bản họp ngày 14/4/2021 ghi nhận: “Hội đồng thành viên biểu quyết với tỷ lệ 4/4 đồng ý miễn nhiệm ông Nguyễn Thân t ngày 12.4.2021. Hội đồng thành viên nhờ ông Nguyễn T hỗ trợ về việc ký các chứng từ ngân hàng sau khi được Ban Tổng giám đốc mới chấp nhận cho tới ngày 21.04.2021 (tham chiếu ghi âm)”.
Tuy nhiên, sau đó các bên lại không biểu quyết thống nhất được người giữ chức vụ Tổng giám đốc MVI thay thế ông Nguyễn T, và việc ông Nguyễn T tiếp tục ký tên đại diện MVI vay Ngân hàng V3 số tiền 400.000USD trong thời gian chưa bổ nhiệm Tổng giám đốc mới.
Tại phần 2.2 Biên bản ngày 14/4/2021 về bổ nhiệm Tổng giám đốc mới ghi nhận: “Phía MISB tiếp tục đề cử ông Đỗ Quang M1 (đang làm Phó Tổng giám đốc) được bổ nhiệm chức vụ Tổng giám đốc MVI”, như nội dung Biên bản họp ngày 09/4/2021 thì ông B đại diện phía VIPESCO thay đổi ý kiến tại Biên bản họp ngày 09/4/2021: “Chỉ đồng ý bổ nhiệm ông M1 giữ chức Tổng giám đốc MVI cho đến ngày 31.05.2021 do ông M1 không có hồ sơ cá nhân đạt đủ tiêu chẩn về kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm trong ngành, VIPESCO từ chối xem xét và ký lại hợp đồng lao động của ông M1 tại cuộc họp.”
Ông M1 có ý kiến: “Ông Nguyễn T là người trực tiếp phỏng vấn và tiếp nhận hồ sơ cá nhân của ông M1, phòng KHTH không yêu cầu bổ sung hồ sơ. Về hợp đồng lao động kết thúc ngày 31.5.2021 nhưng ông T đã yêu cầu với Hội đồng thành viên gia hạn hợp đồng đến ngày 31.12.2021 và được Hội đồng thành viên thông qua”.
Ông T1 đại diện phía MISB có ý kiến: “Tại sao lần bổ nhiệm ông M1 giữ chức phó Tổng giám đốc MVI phía VIPESCO không phản đối mà bây giờ lại phản đối, không đồng ý bổ nhiệm ông M1 đến hết ngày 31.05.2021” và xác định rõ: “MISB đã đề cử ông M1 nhưng ý kiến của VIPESCO chỉ đồng ý đến ngày 31.05.2021 thì MISB không đồng ý; Nếu không thống nhất thì ông Nguyễn T phải tiếp tục làm Tổng giám đốc MVI; Với vai trò đại diện 50% vốn, quyết định miễn nhiệm ông Nguyễn T và bổ nhiệm ông Đỗ Quang M1 cùng lúc nếu tái ký hợp đồng với ông M1 1 năm.”.
Tại phần cuối Biên bản ngày 14/4/2021, ông T1 là Chủ tịch Hội đồng thành viên nêu ý kiến kết luận: “...chưa có vấn đề nào được thống nhất theo quy trình biểu quyết và nội dung bổ nhiệm ông M1 cũng chưa thành công do đó buổi họp thất bại”. Sau cuộc họp ngày 14/4/2021 thì Hội đồng thành viên cũng không ban hành được Nghị quyết về việc miễn nhiệm Tổng giám đốc MVI đối với ông Nguyễn T, và bổ nhiệm Tổng giám đốc mới.
Theo khoản 1 Điều 64 Luật Doanh nghiệp và khoản 1 Điều 23 Điều lệ MVI quy định “Tổng giám đốc là người điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của Công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình”, nên việc miễn nhiệm Tổng giám đốc phải được thực hiện cùng lúc với việc bổ nhiệm Tổng giám đốc khác mới đảm bảo việc điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của Công ty theo quy định. Tại Biên bản họp ngày 09/4/2021 ý kiến của hai bên cũng thống nhất về việc quyết định miễn nhiệm ông T và quyết định bổ nhiệm Tổng giám đốc mới là ông M1 vào cùng một thời điểm. Vì vậy, nguyên đơn cho rằng Biên bản họp ngày 14/4/2021 thì Hội đồng thành viên đã thống nhất biểu quyết đồng ý miễn nhiệm ông Nguyễn Thân t ngày 12/4/2021, trong khi các bên chưa biểu quyết thống nhất được việc bổ nhiệm Tổng giám đốc mới là ảnh hưởng đến việc điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của Công ty nên không phù hợp quy định pháp luật, không phù hợp Điều lệ MVI và sự thống nhất của các bên tại buổi họp ngày 09/4/2021 nên không có căn cứ chấp nhận. Trong trường hợp, Hội đồng thành viên không bổ nhiệm được Tổng giám đốc mới khi ông Nguyễn T xin thôi việc trước thời hạn thì VIPESCO vẫn phải chịu trách nhiệm cử người đại diện giữ chức vụ Tổng giám đốc MVI trong nhiệm kỳ từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/12/2021 như Nghị quyết của Hội đồng thành viên ngày 15/12/2020 đã quyết định. Do đó, nguyên đơn cho rằng bị đơn có lỗi là không có căn cứ chấp nhận.
Theo Điều 14 Điều lệ MVI quy định VIPESCO và Mosfly International sẽ luân phiên chỉ định hay cử đại diện làm Tổng giám đốc với nhiệm kỳ 02 năm. Tuy nhiên, sau khi đề cử thì chỉ có Hội đồng thành viên mới có quyền và nhiệm vụ quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với Tổng giám đốc theo điểm e khoản 2 Điều 15 Điều lệ MVI. Theo khoản 1 Điều 18 Điều lệ MVI quy định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng giám đốc phải được thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên trên cơ sở đề xuất của mỗi bên và theo điểm e khoản 2 Điều 19 Điều lệ MVI quy định Biên bản họp Hội đồng thành viên phải có nội dung chủ yếu là “các quyết định được thông qua”.
Tại 02 Biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 09/4/2021 và ngày 14/4/2021, thì bị đơn đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm đề cử hay chỉ định ông Đỗ Quang M1 (đang làm Phó Tổng giám đốc) giữ vị trí Tổng giám đốc MVI do ông Nguyễn T xin thôi nhiệm vụ trước thời hạn nhưng Hội đồng thành viên chưa thực hiện quyền biểu quyết thông qua việc bổ nhiệm Tổng giám đốc khác sau ông T. Tại Biên bản ngày 09/4/2021 thì ông B đại diện phía VIPESCO đã đồng ý việc MISB đề cử ông Đỗ Quang M1 giữ vị trí Tổng giám đốc MVI thay ông T mà không đưa ra bất kỳ yêu cầu nào khác cho vị trí này nhưng đến cuộc họp ngày 14/4/2021 thì thay đổi ý kiến chỉ chấp nhận bổ nhiệm ông M1 trong thời gian ngắn (đến ngày 31/5/2021).
Các đương sự đều xác định Công ty M2 không quy định rõ về điều kiện tiêu chuẩn cá nhân khi bổ nhiệm Tổng giám đốc. Nguyên đơn cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông M1 không đủ trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh trong khi ông M1 đã có nhiệm kỳ phó Tổng giám đốc trong năm 2019-2020. Vì vậy, xét bị đơn đã thực hiện đúng Điều lệ MVI về việc đề cử người đảm nhận chức danh Tổng giám đốc, việc Hội đồng thành viên chưa biểu quyết thông qua được chức danh Tổng giám đốc mới tại cuộc họp cũng không thể xác định do lỗi của bị đơn mà phải do Hội đồng thành viên MVI bỏ phiếu quyết định theo điểm a khoản 1 Điều 18 Điều lệ MVI nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải bồi thường thiệt hại với số tiền 9.207.806.979 đồng với lý do trên là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với yêu cầu khởi kiện và yêu cầu phản tố mà nguyên đơn, bị đơn đã rút thì Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Theo trình bày của nguyên đơn và bị đơn thì nguyên nhân gây ra khoản lỗ 18.415.613.959 đồng trong khoản thời gian từ tháng 5/2021 đến tháng 12/2021 của MVI, là do không có Tổng giám đốc điều hành. Nguyên đơn cho rằng do lỗi của bị đơn đã không chỉ định nhân sự để ổn định hoạt động của MVI; Trong khi đó bị đơn thì cho rằng việc MVI không có Tổng giám đốc điều hành là lỗi của nguyên đơn. Vậy để xem xét yêu cầu của các bên đương sự, Tòa án phải xác định khoản tiền lỗ của MVI từ tháng 5/2021 đến tháng 12/2021 có phải là do không có Tổng giám đốc điều hành hay còn do các yếu tố, nguyên nhân khác, bởi: Căn cứ vào báo cáo tài chính do nguyên đơn, bị đơn cung cấp và thực tế sản xuất kinh doanh thì việc ngưng sản xuất kinh doanh có thể là nguyên nhân dẫn đến việc thua lỗ, hoặc việc ngưng sản xuất kinh doanh là để cắt giảm tình trạng lỗ.
Xét, báo cáo tài chính mà nguyên đơn nêu thể hiện:
- Năm 2019 công ty M2 thua lỗ trên 07 tỷ đồng dù đang có Tổng giám đốc điều hành;
- Năm 2020 công ty M2 lãi 876.220.814 đồng;
- Năm 2021 trong thời gian có Tổng giám đốc (04 tháng đầu năm): Công ty M2 lỗ 8.573.000.000 đồng; Trong thời gian không có Tổng giám đốc (08 tháng cuối năm) công ty M2 lỗ 18.415.613.959 đồng.
Căn cứ theo tài liệu chứng cứ trên thì có cơ sở xác định cho dù lỗi dẫn đến việc công ty M2 không có Tổng giám đốc điều hành trong thời gian từ 5/2021 đến tháng 12/2021 là của nguyên đơn, hay bị đơn thì đây cũng không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra tình trạng thua lỗ cho công ty M2, bởi: Trong khoảng thời gian có Tổng giám đốc điều hành thì công ty M2 vẫn xảy ra tình trạng thua lỗ. Mặt khác, từ 5/2021 đến tháng 12/2021 là giai đoạn tỉnh Bình Dương thực hiện cách ly ngưng sản xuất do dịch bệnh. Nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc không có Tổng giám đốc điều hành đã gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty M2 như: Do không có Tổng giám đốc nên công ty M2 không có người đại diện theo pháp luật để ký kết các giao dịch, hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận, nên không có căn cứ để xác định thiệt hại.
Bản án sơ thẩm nhận định đánh giá lỗi, trong khi chưa xác định được thiệt hại và mối quan hệ nhân quả của việc không có Tổng giám đốc điều hành dẫn đến kinh doanh thua lỗ là chưa đầy đủ theo trình tự đánh giá chứng cứ trong việc giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Tuy vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích lỗi để không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, là phù hợp với quan điểm phán quyết theo nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử phúc thẩm. Do vậy, sai sót này của Tòa án cấp sơ thẩm không ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn có kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới để chứng minh thiệt hại là do không có Tổng giám đốc điều hành từ tháng 5/2021 đến tháng 12/2021. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét xử không chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên người có kháng cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự,
I/Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty Cổ phần T3;
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 09/2023/KDTM-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Áp dụng khoản 1 Điều 64 Luật Doanh nghiệp; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần T3 về việc buộc bị đơn M phải bồi thường thiệt hại với số tiền 9.207.806.979 đồng (chín tỷ, hai trăm lẻ bảy triệu, tám trăm lẻ sáu nghìn, chín trăm bảy mươi chín đồng).
2/Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
II/Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Công ty Cổ phần T3 phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo biên lai thu số 0011693 ngày 09/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Cục THADS tỉnh Bình Dương; - NĐ (1); - BĐ (1); -NLQ (2); - Lưu (10) 19b (Án TTKY). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Duyên |