- Tranh chấp gì? án hình sự — "về tội “Giết người” - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trương Nguyễn Hữu P 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 11 năm 2023.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2024/HSST Ngày 27 tháng 3 năm 2024 NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Khoa
Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Huỳnh Thị Như Ý
Ông Nguyễn Minh Hùng
Bà Nguyễn Thị Thu Huyền
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Biên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trương Quang Trung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26, 27 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:
Trương Nguyễn Hữu P, sinh năm: 1983, tại: Khánh Hòa. Nơi cư trú: Thôn X, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở trước khi bị bắt: (Theo danh, chỉ bản: Số C, P, V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa). Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Trương Chí H và bà Nguyễn Thị Tố M. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 11 năm 2023.
Có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Hữu T, Luật sư của Công ty L, Đoàn Luật sư tỉnh K. Có mặt.
Bị hại: Ông Trần Đăng H1, sinh năm: 2003 (Chết ngày 01/11/2023).
Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Đăng H2, sinh năm: 1981, bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1979, cùng trú tại: Thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Ông Trương Chí H, sinh năm: 1971, bà Nguyễn Thị Tố M, cùng trú tại: Thôn X, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
Người làm chứng:
- Ông Trần Quốc D, sinh năm: 2001, nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Ông Phạm Trung T1, sinh năm: 1980, nơi cư trú: Số B đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NHẬN THẤY:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 01 tháng 11 năm 2023, Trần Quốc D rủ Trương Nguyễn Hữu P đến quán ăn vặt “NÚP” ở địa chỉ: số G đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa để gặp Trần Đăng H1 đòi số tiền 7.500.000 đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) H1 nợ D trước đó.
Khi đi P có đem theo 01 con dao bấm để ở trong cốp xe mô tô (P không nói cho D biết việc P đem theo dao). Sau đó, P điều khiển xe mô tô biển 79N3- 199.84. D điều khiển xe mô tô biển số 79H1-928.50 đi tới quán của H1.
Khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, xuất phát từ việc nợ tiền giữa D và H1, D và P tới quán ăn “Núp” tìm H1 đòi nợ, P mở cốp xe mô tô lấy dao bấm bỏ vào trong túi áo rồi cùng D đi vào nói chuyện với H1. Quá trình nói chuyện thì giữa H1 và P xảy ra mâu thuẫn. H1 xuống bếp lấy 01 con dao dài khoảng 20cm (loại dao chặt thịt) chạy lên; P cũng lấy dao bấm cầm trên tay; D thấy vậy liền vào can ngăn nhưng cả hai vẫn xông vào đánh nhau. H1 dùng dao chém 01 nhát trúng vào tay trái của P, P dùng dao bấm đâm 04 nhát vào vùng lưng của H1. D tiếp tục can ngăn và đẩy H1 ra trước cửa quán thì P dùng dao đâm 01 nhát trúng vào khuỷu tay trái của H1. Thấy H1 bị chảy máu nhiều và gục tại quán, D và P đã đưa H1 đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ nhưng H1 đã chết trên đường đi. Về phía P, khi biết H1 chết đã đến Công an phường P đầu thú và giao nộp con dao đã sử dụng đâm H1.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 503-2023/KLGĐTT-KTHS ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Vùng lưng có 04 vết thương đồng dạng, hình khe, bờ mép sắc gọn, xung quanh miệng vết thương bầm tụ máu, trong đó có 02 vết xuyên thấu vào lồng ngực (vết 3, vết 4), làm thủng nhu mô thùy dưới phổi trái, đứt các tiểu phế quản, mạch máu tại thùy dưới, cụ thể:
+ Vết thương thứ 3 tại vai lưng trái, thủng xuyên thấu lồng ngực tại gian sườn 7, xuyên thấu từ sau ra trước bờ ngoài thùy dưới phổi trái;
+ Vết thương thứ 4 tại lưng trái, thủng xuyên thấu lồng ngực tại gian sườn 9 thủng thùy dưới phổi trái;
Khoang ngực trái có 2700ml máu loãng lẫn máu cục.
2. Kết luận:
Nguyên nhân chết: Suy tuần hoàn cấp, suy hô hấp cấp do vết thương thấu ngực là thủng phổi.
Tại Kết luận giám định ADN số 3.337-2023/KLGĐADN-TTPY ngày 19/12/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố H kết luận:
- AND của Trương Nguyễn Hữu P không hiện diện trong dấu vết trên cán và lưỡi con dao bấm.
- AND của Trần Đăng H1 có hiện diện trong dấu vết trên cán và lưỡi con bấm.
Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKSKH-P1 ngày 19 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Trương Nguyễn Hữu P về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã giữ nguyên kết luận truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Nguyễn Hữu P từ 15 đến 17 năm tù.
- Về bồi thường dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và các đại diện hợp pháp của bị hại, buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho các đại diện hợp pháp của bị hại 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng).
- Vật chứng vụ án:
Trả lại cho bị cáo Trương Nguyễn Hữu P 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, tiêu hủy các vật chứng còn lại. Tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02 tháng 01 năm 2024, giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh K và Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.
+ Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố đối với bị cáo Trương Nguyễn Hữu P, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
+ Đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định.
+ Bị cáo đồng ý với nội dung cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền mà họ đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Nguyễn Hữu P đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Trần Quốc D và Trần Đăng H1 có góp tiền để làm ăn chung, H1 cong nợ D 7.500.000 đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 01 tháng 11 năm 2023, Trần Quốc D rủ Trương Nguyễn Hữu P đến nơi làm việc của Trần Đăng H1 tại số nhà G đường L, P, N, Khánh hòa để đòi nợ, khi đi, P có mang theo 01 con dao bấm. Đến nơi làm việc của H1, trong lúc D đòi nợ H1 thì giữa H1 và P xảy ra mâu thuẫn, hai bên cầm ghế đánh nhau nhưng được D can ngăn. Trần Đăng H1 chạy xuống bếp lấy 01 con dao lên để đánh nhau với P, P lấy con dao bấm mang theo trước đó, hai bên xông vào đánh nhau, tuy được được D can ngăn nhưng hai bên vấn tiếp tục lao vào đánh nhau. H1 cầm dao chém 01 nhát vào tay P thì bị P dùng dao bấm đâm 04 nhát vào vùng lưng và 01 nhát vào tay trái. Thấy H1 chảy nhiều máu nên P dừng lại và cùng D đưa H1 đi cấp cứu. Tuy nhiên, H1 đã tử vong trên đường đi cấp cứu.
Xét thấy lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 07/CT-VKSKH-P1 ngày 19 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Trương Nguyễn Hữu P về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo không liên quan gì đến việc nợ giữa D và anh H1 lại can thiệp vào việc đòi nợ của D. Trước khi đi cùng D, bị cáo mang theo dao bấm và đã sử dụng con dao này để tấn công anh Trần Đặng H3. Bị cáo dùng dao bấm đâm 04 nhát vào vùng lưng làm thủng phổi dẫn đến anh H3 tử vong do bị, suy tuần hoàn, hô hấp cấp. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, mang tính chất côn đồ, hung hãn, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng người khác. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Giết người”, phần tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, được tặng Bằng khen, bà nội bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến, sau khi phạm tội đã đưa bị hại đi cấp cứu và ra đầu thú, đã bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 120.000.000 đ (Một trăm hai mươi triệu đồng) và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo và bị hại là thành phần thanh niên mới trưởng thành, do thiếu kiềm chế trong việc xử sự các quan hệ xã hội nên dẫn đến hậu quả đáng tiếc. Trong vụ án này, bị hại đã dùng dao tấn công, chém vào tay bị cáo trước dẫn đến căng thẳng giữa đôi bên. Đối với bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi xem xét quyết định hình phạt.
[ 6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường tiền tổn thất tinh thần là 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng). Bị cáo đồng ý.
Về vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Trả lại cho bị cáo Trương Nguyễn Hữu P 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax.
- Tiêu hủy: 01 (Một) áo thun đen thu giữ của Trần Đăng H1; 01 (Một) đôi dép, 01 (Một) dao phay, 01 (Một) áo khoác đen, 01 (Một) quần dài đen, 01 (Một) con dao bấm bằng kim loại màu đen, dài khoảng 20cm.
Tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02 tháng 01 năm 2024, giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh K và Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trương Nguyễn Hữu P phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 8.000.000 đ (Tám triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Nguyễn Hữu P.
Xử phạt bị cáo Trương Nguyễn Hữu P 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 11 năm 2023.
2. Về bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 584, 591 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhân sự thỏa thuận giữa bị cáo Trương Nguyễn Hữu P và đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại tổng số tiền 280.000.000đ (Hai trăm tám mươi triệu đồng), bị cáo đã bồi thường 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng), trong đó: 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) gia đình bị cáo bồi thường trực tiếp cho đại diện hợp pháp của bị hại; 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) được gia đình bị cáo nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng) cho đại diện hợp pháp của bị hại.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số: 0000998 ngày 12 tháng 3 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa để đảm bảo cho việc thi hành án.
Quy định: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo Trương Nguyễn Hữu P chậm thực hiện nghĩa vụ về bồi thường thiệt hại thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền dân su thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về vật chứng:
- Trả lại cho bị cáo Trương Nguyễn Hữu P 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax.
- Tiêu hủy: 01 (Một) áo thun đen thu giữ của Trần Đăng H1; 01 (Một) đôi dép, 01 (Một) dao phay, 01 (Một) áo khoác đen, 01 (Một) quần dài đen, 01 (Một) con dao bấm bằng kim loại màu đen, dài khoảng 20cm.
Tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02 tháng 01 năm 2024, giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh K và Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.
4. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trương Nguyễn Hữu P phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 8.000.000 đ (Tám triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1 - TANDTC; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Công an tỉnh Khánh Hòa; - Trại tạm giam, Công an tỉnh Khánh Hòa; - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; - Những người tham gia TT khác; - Lưu hồ sơ; Án văn; Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Anh Khoa |