vanban.org

Bản án 32/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 28/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Anh P, Đỗ Thanh C đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: 1. Xử phạt bị cáo Lê Anh P 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giam thi hành án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Anh P cùng đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Anh P, Đỗ Thanh C đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST
Ngày: 28-02-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Đắc Toàn và ông Nguyễn Văn Sỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thế Nữ Diệu Hiền - Thư ký của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 209/2023/TLST-HS ngày 24/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HS ngày 05/01/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 20/2024/HSST-QĐ ngày 30/01/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Anh P; sinh ngày 10/02/1990 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Trúc L, sinh năm: 1948 và bà Nguyễn Thị T (chết); Vợ: Đỗ Thùy L1 (đã ly hôn), có 01 người con sinh năm 2019; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/3/2023 bị Công an thành phố Q, tỉnh Bình Định xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 06/11/2023 bị Công an T xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 13/9/2023 bị Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án tại Trại giam X – Bộ C2, đến ngày 27/01/2024 chấp hành xong. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 29/01/2024, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Đỗ Thanh C; sinh ngày 29/7/1997 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Con ông Đỗ Thanh T1 (chết) và bà Lý Thị H (chết); vợ, con: chưa; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/3/2023 bị Công an thành phố Q, tỉnh Bình Định xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 06/11/2023 bị Công an T xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 13/9/2023 bị Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo đang thi hành án phạt 12 tháng tù tại Trại giam X – Bộ C2, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

1. Ủy ban nhân dân xã N

Trụ sở: Xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tấn D – Chủ tịch.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Dương Văn H1, sinh năm: 1956 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn L, xã N, TP ., tỉnh Bình Định.

(Theo văn bản uỷ quyền ngày 12/7/2023)

2. Bà Võ Thị C1, sinh năm: 1966 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

Trú tại: Thôn L, xã N, TP ., tỉnh Bình Định.

3. Anh Nguyễn Ngọc T2, sinh năm: 1973 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn L, xã N, TP ., tỉnh Bình Định.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm: 1982 “vắng mặt”

Địa chỉ: A T, TP ., tỉnh Bình Định.

2. Anh Nguyễn Thành N, sinh năm: 2001 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

Địa chỉ: Tổ D, KV I, phường Đ, TP ., tỉnh Bình Định.

3. Anh Nguyễn Văn L3, sinh năm: 1977 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

Địa chỉ: Tổ D, KV I, phường Đ, TP ., tỉnh Bình Định.

4. Bà Lê Thị M, sinh năm: 1946 “vắng mặt”

Địa chỉ: Khu phố P, TT. C, huyện P, tỉnh Bình Định.

* Người làm chứng:

1. Anh Trần Văn T3, sinh năm: 1998 “vắng mặt”

Địa chỉ: Thôn L, xã N, TP ., tỉnh Bình Định.

2. Anh Mai Xuân L4, sinh năm: 1968 “vắng mặt”

Địa chỉ: Thôn L, xã N, TP ., tỉnh Bình Định.

3. Bà Lý Thị Kim L5, sinh năm: 1954 “vắng mặt”

Địa chỉ: Thôn L, xã N, TP ., tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 ngày 02/3/2023, Lê Anh P mang rượu qua nhà Đỗ Thanh C tại thôn L, xã N để rủ C nhậu. Trong lúc nhậu, P có nói C lát đi mấy nhà hoang xem có máy bơm hay dây điện gì lấy trộm về bán thì C đồng ý. Sau đó, C và P đi mua 01 cái cưa rồi đi bộ đến mấy nhà hoang ở thôn L nhưng không có tài sản gì. Lúc này, P và C nhìn thấy “Lăng Ông Nam Hải Vạn Đầm Hưng L6” nên cùng leo tường vào lăng. P lần theo dây điện thì phát hiện trong căn phòng bên tay phải của lăng có để 01 máy bơm nước. P chỉ C thấy chỗ để máy bơm rồi C và P thay phiên nhau cưa ống để lấy máy bơm đem ra ngoài sân, C bỏ máy bơm vào 01 cái bao. Sau đó, P và C cùng nhau gỡ dây khóa cửa phụ bên hông trái của lăng để đột nhập vào bên trong Lăng. Chương lấy 01 thanh la bằng đồng treo trên tường; lấy 01 đỉnh đồng, 02 đài thờ bằng gỗ ở bàn thờ phía trước; lấy 01 đỉnh đồng, 02 đài thờ bằng gỗ ở bàn thờ phía sau và xếp gọn vào trong thùng nhang (lấy ở bàn thờ phía sau) rồi lấy nắp đậy lại để tránh bị phát hiện. Vì thùng giấy không còn chỗ chứa nền P và C không lấy thêm đồ đồng nữa. C và P mang máy bơm giấu trong nhà hoang gần nhà P, còn thùng đựng đồ đồng thì mang về nhà P và dùng vải lót vào thùng để không phát ra tiếng động khi di chuyển. Khoảng 13 giờ 15 cùng ngày, P cùng C đi bộ mang thùng đựng đồ đồng trộm cắp được đến bến xe buýt tại Nhà văn hóa xã N rồi đi xe buýt vào trung tâm thành phố Q tìm nơi bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi xuống trạm tại gần ngã năm Đ, thành phố Q, P gọi 01 người xe ôm (không rõ thông tin, lai lịch) chở đến tiệm M1 số 181 L, thành phố Q. P và C mang thùng đồ đồng vào tiệm bán nhưng ông chủ tiệm Nguyễn Văn L3 (Sinh năm: 1977) xem thấy đồ thờ cúng nên không mua. Sau đó, P và C đi xe ôm đến tiệm M1 số 01 T, thành phố Q. Lúc này, C mang thùng đồ đồng vào trong tiệm để bán thì bà Nguyễn Thị L2 (Sinh năm: 1982) là chủ tiệm đồng ý mua. Số đồ đồng gồm 01 thanh la, 02 đỉnh đồng cân được 17kg, bán được 1.670.000 đồng, còn 04 cái đài thờ làm bằng gỗ nên bà L2 không mua. C và P kiểm tra thì thấy 04 đài thờ trên đúng là làm bằng gỗ. Người lái xe ôm đứng gần đó xin nên C và P đã đem 04 đài thờ cho người này. Sau đó, C, P tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.

Khoảng 13 giờ 00 ngày 03/3/2023, Lê Anh P cùng Đỗ Thanh C ở nhà P nhậu thì C và P rủ nhau tiếp tục đến lăng “Lăng Ông Nam Hải Vạn Đầm Hưng L6” để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 14 giờ 00 cùng ngày, P và C (mang theo 01 cái bao màu đen và 01 cái kiềm) đi bộ đến L, leo qua tường vào mặt phía sau của L7. Khi đến nơi, P nói C đứng cảnh giới rồi P dùng kiềm gỡ dây, đẩy cửa bên hông vào chánh điện. P và C lấy 02 đèn thau ở bàn thờ phía trước, bỏ vào cái bao (mang từ nhà) rồi đi về nhà P. Khoảng 14 giờ 35 cùng ngày, P cùng C mang bì đen đựng 02 đèn thau và lấy máy bơm nước (đã trộm từ ngày hôm trước) mang đến bến xe buýt tại Nhà văn hóa xã N đón xe vào trung tâm thành phố Q để bán. Sau khi xuống trạm tại gần ngã năm Đ, thành phố Q, P gọi 01 người xe ôm (không rõ thông tin, lai lịch) chở C và P đến tiệm M1 số 181 L, thành phố Q. Lúc này, C mang bao đựng máy bơm vào bán và nói dối là đồ của nhà đã cũ nên anh Nguyễn Thanh N1 (Sinh năm: 2001; là con của chủ tiệm) tin và mua với giá 250.000 đồng. Sau đó, P, C tiếp tục đi xe ôm đến tiệm mua bán phế liệu số 01 T, thành phố Q. Tại đây, P đứng chờ bên ngoài còn C mang bì đen đựng đồ đồng vào trong bán cho bà Nguyễn Thị L2, cân được 5kg, bán được 500.000 đồng. Số tiền có được, P và C đã tiêu xài cá nhân hết.

Khoảng 22 giờ 30 ngày 18/3/2023, Lê Anh P đang đi bộ ở gần nhà thì thấy xe mô tô biển số 77N4-1470 của bà Võ Thị C1 (Sinh năm: 1966; trú: L, N, thành phố Q) để ở đường hẻm phía trước nhà bà C1, không có ai trông coi. P nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đi đến, dắt xe mô tô biển số 77N4-1470 rời đi và dùng chìa khóa mang theo trong người để khởi động xe. Sau đó, P điều khiển xe mô tô biển số 77N4-1470 đến nhà Đỗ Thanh C, rủ C đi mua “Cỏ Mỹ” về hút. Sau đó, C và P đi xe mô tô biển số 77N4-1470 đến đoạn đường bờ kè biển H thuộc thôn L, xã N thì thấy có 01 mỏ neo bằng kim loại của ông Nguyễn Ngọc T2 (Sinh năm: 1973; Trú: L, N, thành phố Q) để ngoài bờ kè (Phía đối diện nhà hàng Đ), không ai trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. P, C cùng đi đến khiêng mỏ neo để lên xe mô tô biển số 77N4-1470 rồi chở đi về hướng thị trấn C, huyện P. Cả hai đến tiệm mua bán phế liệu của bà Lê Thị M (Sinh năm: 1946; trú: Khu phố P, TT. C, huyện P, tỉnh Bình Định), cân được 45kg, bán được 320.000 đồng. Sau đó, C và P điều khiển xe mô tô biển số 77N4-1470 vào trung tâm thành phố Q để mua “Cỏ Mỹ” về hút. Sau khi mua “Cỏ Mỹ” xong về lại xã N, đến đoạn gần khu vực FLC N thì xe hết xăng. Lúc này, C hỏi P là xe mượn của ai thì P kể là đã lấy trộm xe của bà C1 gần nhà P. C nói P để dắt xe về trả bà C1 chứ sợ bà C1 báo Công an nhưng P mệt, định vào nhà hoang gần đó ngủ sáng về nhưng C không đồng ý. Sau đó, C tự dắt xe mô tô biển số 77N4-1470 đi bộ về và để xe ở bờ kè bãi biển H thuộc thôn L, xã N rồi về nhà ngủ. Sáng ngày 19/3/2023, bà C1 phát hiện bị mất xe mô tô biển số 77N4-1470 nên đã trình báo Công an xã N, thành phố Q sự việc trên. Đến chiều cùng ngày, bà C1 phát hiện xe mô tô biển số 77N4-1470 đang để ở bờ kè bãi biển H thuộc thôn L, xã N lên đã đem giao nộp cho Công an xã N.

* Ngày 29/5/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Q kết luận:

- 01 máy bơm nước, loại công suất 1.5 (HP), điện áp: 220 (V), không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng; có trị giá là 500.000 đồng tại thời điểm ngày 02/3/2023.

- 01 thanh la, bằng đồng, dáng hình tròn, đường kính 25cm, thành cao 2cm; đã qua sử dụng; có trị giá là 1.200.000 đồng tại thời điểm ngày 02/3/2023.

- 04 đài thờ, bằng gỗ, dáng hình trụ tròn, được phun sơn màu vàng, mỗi đài cao 15cm, đường kính 22cm; đã qua sử dụng; có trị giá là 200.000 đồng tại thời điểm ngày 02/3/2023.

- 01 đỉnh đồng bộ ngũ, bằng đồng, kiểu dáng hình tháp tròn, cao 50cm; đã qua sử dụng; có trị giá là 1.500.000 đồng tại thời điểm ngày 02/3/2023.

- 01 đỉnh đồng bộ tam, bằng đồng, kiểu dáng hình tháp chữ nhật, cao 50cm; đã qua sử dụng; có trị giá là 2.000.000 đồng tại thời điểm ngày 02/3/2023.

- 02 đèn thau, bằng đồng, hình trụ, mỗi đài cao 60cm; đã qua sử dụng; có trị giá là 1.000.000 đồng tại thời điểm ngày 03/3/2023.

Ngày 30/5/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Q kết luận:

- 01 xe mô tô biển số: 77N4-1470, nhãn hiệu EQUAL, màu sơn: Nâu, số máy: FMG-001536, số khung: 7XP-01536, đã qua sử dụng; trị giá là 1.600.000 đồng tại thời điểm ngày 18/3/2023.

- 01 mỏ neo, bằng kim loại, chiều dài là 2m17, chỗ rộng nhất là 40cm, nặng 45kg, đã qua sử dụng; trị giá là 1.250.000 đồng tại thời điểm ngày 18/3/2023.

Vật chứng vụ án: quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an T đã tạm giữ và trả lại 01 máy bơm nước loại công suất 1.5 (HP), điện áp: 220 (V), không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng cho đại diện bị hại là ông Dương Văn H1; 01 xe xe mô tô biển số: 77N4-1470, nhãn hiệu EQUAL, màu sơn: Nâu, số máy: FMG-001536, số khung: 7XP-01536, đã qua sử dụng cho bị hại Võ Thị C1; 01 mỏ neo, bằng kim loại, chiều dài là 2m17, chỗ rộng nhất là 40cm, nặng 45kg, đã qua sử dụng cho bị hại Nguyễn Ngọc T2.

Về dân sự: ông Dương Văn H1 – đại diện cho bị hại là UBND xã N không có yêu cầu bồi thường gì; bị hại Võ Thị C1, Nguyễn Ngọc T2 đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì.

- Tại bản Cáo trạng số 203/CT-VKSQN ngày 17/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố các bị cáo Lê Anh P, Đỗ Thanh C về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo Lê Anh P, Đỗ Thanh C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị HĐXX .

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Anh P từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Thanh C từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 149/2023/HS-ST ngày 13/9/2023 của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Truy thu của bị cáo Lê Anh P số tiền 1.120.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước; Truy thu của bị cáo Đỗ Thanh C số tiền 960.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo Lê Anh P, Đỗ Thanh C không bào chữa.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều rất hối hận, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo, các bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo Lê Anh P, Đỗ Thanh C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Các bị cáo Lê Anh P, Đỗ Thanh C là những người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và cần xử lý nghiêm minh, nhưng với ý thức xem thường pháp luật, tham lam, muốn có tiền tiêu xài nhưng chây lười lao động nên vào ngày 02/3/2023, bị cáo Lê Anh P và Đỗ Thanh C đã cùng nhau lén lút chiếm đoạt 01 máy bơm nước, 01 thanh la, 04 đài thờ, 01 đỉnh đồng bộ ngũ và 01 đỉnh đồng bộ tam với tổng trị giá là 5.400.000 đồng của “Lăng Ông Nam Hải Vạn Đầm Hưng L6” do Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Q quản lý. Ngoài ra, ngày 18/3/2023 bị cáo Lê Anh P còn lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 77N4-1470 của bà Võ Thị C1 có trị giá là 1.600.000 đồng và 01 mỏ neo của ông Nguyễn Ngọc T2 có trị giá là 1.250.000 đồng tại xã N, TP .. Tổng trị giá tài sản bị cáo Lê Anh P lén lút chiếm đoạt là 8.250.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị cáo Đỗ Thanh C lén lút chiếm đoạt có trị giá 5.400.000 đồng nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố các bị cáo Lê Anh P, Đỗ Thanh C về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Trong vụ án có 02 bị cáo tham gia nhưng là đồng phạm giản đơn, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi do từng bị cáo gây ra.

Hành vi do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương, sau khi thực hiện hành vi phạm tội này, các bị cáo còn thực hiện nhiều hành vi trộm cắp tài sản khác nên phải xử phạt các bị cáo một mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:

4.1. Các bị cáo Lê Anh P, Đỗ Thanh C có nhân thân xấu.

4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Thanh C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Lê Anh P phạm tội 02 lần, mỗi lần trị giá tài sản trên 2.000.000 đồng nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo P, C đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; riêng bị cáo Đỗ Thanh C phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo một mức án có lý có tình để các bị cáo an tâm cải tạo tốt.

Bị cáo Đỗ Thanh C đang chấp hành hình phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án hình sự sơ thẩm số 149/2023/HS-ST ngày 13/9/2023 của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn nên HĐXX áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Ông Dương Văn H1 là người đại diện của bị hại UBND xã Nhơn Lý không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại, bà Võ Thị C1, ông Nguyễn Ngọc T2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh Nguyễn Thành N, bà Lê Thị M mua tài sản từ các bị cáo, tài sản đã thu hồi trả cho các bị hại. Anh N, bà M không ai yêu cầu các bị cáo hoàn lại tiền đã mua tài sản nên không xem xét giải quyết.

Về truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước: Các bị cáo trộm cắp tài sản bán cho bà Nguyễn Thị L2 thu lợi bất chính số tiền 1.670.000 đồng nên truy thu của bị cáo Lê Anh P 835.000 đồng, truy thu của bị cáo Đỗ Thanh C 835.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

Anh Nguyễn Thành N đã mua máy bơm nước với giá 250.000 đồng, bà Lê Thị M mua mỏ neo với giá 320.000 đồng từ các bị cáo, tài sản đã thu hồi trả cho các bị hại, lẽ ra phải buộc các bị cáo có trách nhiệm hoàn lại khoản tiền này cho anh N và bà M. Tuy nhiên, anh N, bà M không yêu cầu các bị cáo phải hoàn lại số tiền đã mua tài sản từ các bị cáo, đây là quyền tự định đoạt của chủ sở hữu, phù hợp với quy định của pháp luật nên không truy thu số tiền này đối với các bị cáo.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về các vấn đề khác:

Đối với việc Đỗ Thanh C và Lê Anh P đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 02 đèn thau tại “Lăng Ông Nam Hải Vạn Đầm Hưng L6” thuộc xã N, thành phố Q vào chiều ngày 03/3/2023, giá trị tài sản trộm cắp là 1.000.000 đồng và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a đến điểm đ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên hành vi này của Đỗ Thanh C và Lê Anh P không cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Công an thành phố Q đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đỗ Thanh C và Lê Anh P là có căn cứ.

Đối với việc Đỗ Thanh C cùng Lê Anh P lén lút chiếm đoạt 01 mỏ neo của ông Nguyễn Ngọc T2 để tại bờ kè biển H thuộc thôn L, xã N, thành phố Q vào tối ngày 18/3/2023, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 1.250.000 đồng và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a đến điểm đ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi này của Đỗ Thanh C không cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Công an thành phố Q đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đỗ Thanh C là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thành N và Lê Thị M đã thu mua những tài sản do Đỗ Thanh C và Lê Anh P mang đến bán nhưng đều không biết những tài sản trên là do trộm cắp mà có nên không phạm tội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự (áp dụng cho bị cáo Lê Anh P);

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật Hình sự (áp dụng cho bị cáo Đỗ Thanh C);

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Anh P, Đỗ Thanh C đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Lê Anh P 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giam thi hành án.

2.2. Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh C 09 (chín) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 149/2023/HS-ST ngày 13/9/2023 của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 27/4/2023.

3. Về truy thu sung vào ngân sách Nhà nước:

Truy thu của bị cáo Lê Anh P 835.000 (Tám trăm ba mươi lăm nghìn) đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.

Truy thu của bị cáo Đỗ Thanh C 835.000 (Tám trăm ba mươi lăm nghìn) đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.

4. Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Anh P, Đỗ Thanh C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ