vanban.org

Bản án 32/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 06/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Nguyễn Minh T 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với phần hình phạt 06 (sáu) tháng tù của Bản án số: 12/2024/HS-ST, ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân đân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Buộc Nguyễn Minh T phải chấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST
Ngày 06 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Qúy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Binh

Ông Nguyễn Văn Thiện

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Sang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Công Quảng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2024/TLST-HS, ngày 08/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 24/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/HSST-QĐ, ngày 06/5/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T, sinh năm 1993, tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: Thôn 1A, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1963 và bà Phạm Kim H, sinh năm 1968. Gia đình có 04 anh chị em, Nguyễn Minh T là con thứ hai trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 15/6/2012, Nguyễn Minh T bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 29/6/2012, Nguyễn Minh T bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 07/01/2014, Nguyễn Minh T bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 29/6/2016, Nguyễn Minh T bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 09/12/2016, Nguyễn Minh T bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo đã chấp hành xong các bản án nêu trên và đã xóa án tích.

Tại Bản án số: 12/2024/HSST ngày 27/02/2024, Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt Nguyễn Minh T 06 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Bị cáo đang chấp hành án.

Bị cáo đang chấp hành án trong một vụ án khác. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Lê Quốc Đ, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ 10, thôn 1B, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Viết L, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ 4, thôn 1A, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Khắc Th, sinh năm 1964; nơi cư trú: Tổ 4, thôn 1B, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

- Người làm chứng: Ông Lê Quốc Đ, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số 16, đường 15, tổ 10, thôn 1B, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 22/11/2023, Nguyễn Minh T, sinh năm 1993, trú thôn 1A, xã Tr, huyện Đ, đến nhà Nguyễn Viết L, sinh năm 1982 cùng thôn mượn xe đạp đi chơi, Nguyễn Viết L đồng ý. Khoảng 19 giờ ngày 22/11/2023, Nguyễn Minh T đạp xe trên đường số 15 thôn 1B, xã Tr thấy nhà Lê Quốc Đ, sinh năm 1987 cổng đóng trong sân nhà có dựng 02 xe mô tô không người trông coi, Nguyễn Minh T đạp xe một đoạn đến cổng nhà ông Lê Văn G (giáp ranh nhà Lê Quốc Đ) dựng xe đạp ngoài đường đi vào cổng nhà ông G rồi đi qua sân trước nhà Lê Quốc Đ đến xe mô tô biển số 86B8 – 30722 có sẳn chìa khóa trong ổ điện. Nguyễn Minh T mở cổng nhà Lê Quốc Đ rồi dắt xe 86B8 – 30722 ra ngoài đường. Lúc này Lê Quốc Đ ngồi trong nhà xem camera qua điện thoại thấy có người dắt trộm xe nên truy hô và chạy ra rượt đuổi. Nguyễn Minh T bỏ xe mô tô trộm cắp chạy đến chổ để xe đạp lấy xe đạp chạy trốn, chạy một đoạn T bỏ lại xe đạp chạy bộ vào vườn tràm gần đó trốn, Lê Quốc Đ và người nhà truy đuổi bắt được Nguyễn Minh T và trình báo với cơ quan Công an.

Tại kết luận định giá tài sản số 87 ngày 04/12/2023 của HĐĐG tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Linh kết luận:

Xe mô tô biển số 86B8 – 30722 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 6.000.000 đồng

Vật chứng thu giữ: 01 Xe mô tô biển số 86B8 - 30722 thu giữ trong vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Linh đã trả lại cho Lê Quốc Đ; 01 xe đạp, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Linh đã trả lại cho Nguyễn Viết L.

Tại Cáo trạng số 28/CT-VKS-HS ngày 04/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Nguyễn Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng.

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh T thành khẩn khai báo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Từ đó, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Quốc Đ và ông Nguyễn Viết L không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Về vật chứng: Qúa trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Linh thu giữ 01 xe mô tô biển số 86B8 - 30722 của ông Lê Quốc Đ; 01 xe đạp của ông Nguyễn Viết L; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Linh đã trả lại cho các chủ sở hữu là phù hợp.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu; mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo không có tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 00 ngày 22/11/2023, tại nhà Lê Quốc Đ ở thôn 1A, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, Nguyễn Minh T có hành vi lén lút đột nhập vào sân nhà trộm cắp 01 xe mô tô biển số 86B8 - 30722 giá trị tài sản chiếm đoạt là 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc quản lý tài sản của người dân. Bị cáo có nhân thân xấu đã bị kết án nhiều lần về tội trộm cắp tài sản, nhưng không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cho nên, cần xem xét hình phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành người biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa tội phạm chung.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Nguyễn Minh T hiện đang chấp hành hình phạt 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 12/2024/HS-ST, ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân đân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Bản án này chưa được tổng hợp, do đó cẩn quyết định hình phạt của bản án ngày hôm nay và tổng hợp phần hình phạt của Bản án số 12/2024/HS-ST, ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân đân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận để buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là đúng quy định.

Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra, ngoài hình phạt chính cần phạt bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng xét thấy bị cáo không có tài sản và thu nhập nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Quốc Đ và ông Nguyễn Viết L nay đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Qúa trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Linh thu giữ 01 (một) xe mô tô biển số 86B8-30722 của ông Lê Quốc Đ; 01 (một) xe đạp của ông Nguyễn Viết L; Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu là phù hợp, đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Minh T 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với phần hình phạt 06 (sáu) tháng tù của Bản án số: 12/2024/HS-ST, ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân đân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Buộc Nguyễn Minh T phải chấp hành chung của hai bản án là: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành Bản án số: 12/2024/HS-ST, ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân đân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận: Ngày 15/4/2024.

2. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (06/6/2024); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

4. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ