- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Nguyễn Tấn V.
- Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢ NGHĨA TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 9 - 2024. V/v: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thông.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Ngọc Lâm.
2. Ông Võ Văn Nhân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Q.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Q tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Khôi – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Q xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 155/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 21/8/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 108/QĐST-DS ngày 09/9/2024, giữa.
- Nguyên đơn: Chị Lê Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1987.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn V, sinh năm: 1987.
Cùng địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Q.
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.
NỘI DỤNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 15/7/2024, bản tự khai ngày 29/7/2024 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Lê Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
Chị và anh Nguyễn Tấn V đăng ký kết hôn vào ngày 05/8/2015 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Q. Đến tháng 10/2020 thì vợ chồng sống ly thân. Lý do trong thời gian dài chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Sau một thời gian vào tháng 12/2020 vì con nên chị và anh V quay lại sống chung, đến tháng 8/2023 thì vợ chồng tiếp tục ly thân cho đến nay.
Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Tấn V.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Anh H, sinh ngày 09/9/2015. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Tấn V không đến Toà trình bày ý kiến và cũng không có văn bản trình bày.
- Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi nghị án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Đối với nguyên đơn thực hiện đúng các Điều 70; 71. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của minh được quy định tại điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự, bị đơn vắng mặt phiên toà lần thứ 2 không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc chị Lê Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Nguyễn Tấn V.
Về con chung: Giao con tên Nguyễn Hoàng Anh H, sinh ngày 09/9/2015 cho chị Lê Nguyễn Thị Thanh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, anh Nguyễn Tấn V không phải cấp dưỡng cho con.
Chị Lê Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn đều cư trú tại huyện T, tỉnh Q. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Q thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Tấn V theo quy định tại Điều 174 và Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh V không hợp tác đến Toà trình bày ý kiến của mình và cũng không có văn bản gửi cho Toà án. Anh V vắng mặt không có lý do trong hai lần mở phiên tòa xét xử. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án; đối với chị Lê Nguyễn Thị Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt.
Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Tấn V có đăng ký kết hôn vào ngày 05/8/2015 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Q. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp được pháp luật công nhận quy định tại các Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo lời trình bày của chị T, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2022, lý do vợ chồng anh chị bất đồng quan điểm sống không tìm được tiếng nói chung, chị và anh V sống ly thân từ năm 2022 nhưng vì con nên chị và anh V về chung sống lại. Đến năm 2023 tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, chị và anh V sống ly thân cho đến nay không quan tâm lẫn nhau. Chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn anh Nguyễn Tấn V.
Hội đồng xét xử xét thấy vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ nhưng anh và chị không làm được. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, chị T và anh V sống ly thân từ năm 2022; sau đó anh, chị tiếp tục về sống chung nhưng tình cảm vợ chồng không chuyển biến tốt hơn mà vẫn tiếp tục xảy ra mâu thuẫn trầm trọng hơn. Năm 2023 tiếp tục sống ly thân. Xét tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt được; nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân cũng chỉ là ràng buộc. Do đó, để giải phóng cho đôi bên có cuộc sống riêng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Nguyễn Tấn V.
Về con chung: Xét nguyện vọng của chị T và nguyện vọng của cháu H, Hội đồng xét thấy giao cháu tên Nguyễn Hoàng Anh H, sinh ngày 09/9/2015 cho chị Lê Nguyễn Thị Thanh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, chị T không yêu cầu anh Nguyễn Tấn V cấp dưỡng cho con được chấp nhận.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định, phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Chị Lê Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 8, Điều 9; Điều 51; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 1 khoản 3 Điều 82, Điều 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Nguyễn Tấn V.
2. Về con chung: Giao con tên Nguyễn Hoàng Anh H, sinh ngày 09/9/2015, cho chị Lê Nguyễn Thị Thanh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, anh Nguyễn Tấn V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
5. Về án phí: Chị Lê Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003945 ngày 15/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Q.
6. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Q; -VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - UBND xã N; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VT | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Ngọc Thông |