vanban.org

Bản án 32/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Ph được ly hôn anh Hà Văn D.

Về con chung: Giao cho chị Hà Thị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung là cháu Hà Gia H, sinh ngày 11/8/2022 và cháu Hà Gia H, sinh ngày 11/12/2023 kể từ tháng 12 năm 2024 đến khi các cháu thành niên. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền đi lại thăm nom … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "PH-D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Ph được ly hôn anh Hà Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
TỈNH PH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30 tháng 12 năm 2024
V/v:“Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Ch.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đức Tr và ông Nguyễn Đức Ng.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải L –Thư ký của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Th.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Th tham gia phiên toà: Ông Hà Trọng Th - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Th xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/12/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị Ph, sinh năm 1999 (có mặt);

Địa chỉ: xóm Sang Trên, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Th;

- Bị đơn: Anh Hà Văn D, sinh năm 1996 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu Lối, xã Văn Luông, huyện T, tỉnh Th;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2024, những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà ngày hôm nay, Nguyên đơn chị Hà Thị Ph trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 05/5/2022, chị Hà Thị Ph với anh Hà Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Văn Luông, huyện T, tỉnh Th. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, sau đó cuộc sống chung bắt đầu mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Chị Ph đã bỏ về ở nhà bố mẹ đẻ tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Th từ đầu năm 2024, vợ chồng sống ly thân nhau từ đó. Nay xét tình cảm không còn, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên chị Ph làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Th giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Văn D.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị Ph, anh D có 02 con chung là cháu Hà Gia H, sinh ngày 11/8/2022 và cháu Hà Gia H, sinh ngày 11/12/2023. Hiện các cháu đang ở cùng với chị Ph, khi vợ chồng ly hôn, chị đề nghị được nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

[2]. Về phía Bị đơn anh Hà Văn D:

Tòa án đã tiến hành lấy lời khai đối với anh D vào ngày 28/10/2024, tuy nhiên trong các buổi làm việc tiếp theo, anh D đều vắng mặt không có lý do. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/10/2024, anh Hà Văn D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh D xác nhận về thời gian vợ chồng kết hôn, chung sống, ly thân và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị Ph trình bày trong đơn khởi kiện và bản tự khai là đúng. Nay chị Ph xin ly hôn, anh muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con chung.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung như chị Ph trình bày là đúng. Hiện các cháu đang ở cùng chị Ph. Nếu vợ chồng phải ly hôn, anh đề nghị được nuôi dưỡng cháu Hà Gia H, còn chị Ph sẽ nuôi dưỡng cháu Hà Gia H. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

[3]. Quan điểm của đại diện gia đình anh Hà Văn D:

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 18/11/2024, bà Nguyễn Thị Lệnh (là mẹ đẻ anh D) cho biết:

Về quan hệ hôn nhân: Anh D và chị Ph kết hôn năm 2022. Sau khi kết hôn, hai anh chị về chung sống cùng gia đình bà tại khu Lối, xã Văn Luông. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Từ đó đến nay chị Ph đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Bà đã nhận các văn bản tố tụng của Toà án thay cho anh D và giao lại cho anh D, do anh D thường xuyên đi làm xa nhà nên không đến Toà án làm việc được.

Về con chung: Vợ chồng chị Ph, anh D có hai con chung là cháu Hà Gia H, sinh ngày 11/8/2022 và cháu Hà Gia H, sinh ngày 11/12/2023. Hiện các cháu đang ở cùng với chị Ph. Nếu vợ chồng anh chị ly hôn, quan điểm của gia đình là đề nghị Toà án giao cho anh D nuôi dưỡng cháu Hà Gia H, còn chị Ph sẽ nuôi dưỡng cháu Hà Gia H.

Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Hai anh chị không đề nghị Toà án giải quyết nên bà không có ý kiến gì.

[4]. Quan điểm của đại diện UBND xã Văn Luông: Tại Biên bản làm việc ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện T với đại diện UBND xã Văn Luông, địa phương cung cấp như sau:

Về tình trạng hôn nhân: Chị Hà Thị Ph và anh Hà Văn D là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Văn Luông ngày 05/5/2022. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống cùng với gia đình anh D tại khu Lối, xã Văn Luông. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc cho đến đầu năm 2024 thì anh chị thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, mặc dù đã được gia đình hai bên và chính quyền địa phương khuyên bảo nhưng anh chị vẫn không chủ động và không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc. Từ khi phát sinh mâu thuẫn đến nay chị Ph đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Th, vợ chồng sống ly thân nhau. Nay chị Ph có đơn khởi kiện xin được ly hôn anh D, UBND xã Văn Luông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: chị Ph và anh D có 02 con chung là cháu Hà Gia H, sinh ngày 11/8/2022 và cháu Hà Gia H, sinh ngày 11/12/2023. Hiện các cháu đang ở cùng với chị Ph. Nay hai anh chị ly hôn, UBND xã Văn Luông đề nghị Toà án giải quyết đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho các cháu.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị Ph, anh D không đề nghị Toà án giải quyết nên địa phương không có ý kiến gì.

[5]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Th phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Việc nhận đơn, thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn nhiều lần vắng mặt không có lý do nên đây là vụ án không tiến hành hoà giải được. Thẩm phán đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho Nguyên đơn, Bị đơn theo đúng khoản 1 Điều 175, khoản 1,2,5 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn có mặt, Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Th xét xử vắng mặt Bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Chị Ph, anh D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong cuộc sống chung vợ chồng hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ph, anh D là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ph.

Về con chung: Chị Ph, anh D có 02 con chung là cháu cháu Hà Gia H, sinh ngày 11/8/2022 và cháu Hà Gia H, sinh ngày 11/12/2023 hiện đang ở cùng chị Ph. Khi chị Ph và anh D ly hôn, các cháu vẫn còn nhỏ tuổi cần có sự chăm sóc của người mẹ cũng như cần tránh sự xáo trộn trong cuộc sống đối với cả hai cháu. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1,2 Điều 81, 82, 83 Luật hôn và nhân gia đình, giao cả hai con chung cho chị Ph nuôi dưỡng là phù hợp. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Ph không yêu cầu.

Đối với tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị Ph, anh D không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Khi nào chị Ph, anh D có yêu cầu thì anh, chị có quyền làm đơn đề nghị giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định.

Về án phí dân sự: Chị Hà Thị Ph phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiên phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị Hà Thị Ph có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Th cho chị được ly hôn với anh Hà Văn D, sinh năm 1996; trú tại: Khu Lối, xã Văn Luông, huyện T, tỉnh Th. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Th.

Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn anh D đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xác định vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị Ph có mặt, anh D vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Ph, anh D theo đúng khoản 1 Điều 175 và khoản 1,2,5 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện T xét xử vắng mặt Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ph và anh D trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Năm 2022, hai bên đăng ký kết hôn tại UBND xã Văn Luông, huyện T, tỉnh Th, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, chị Ph cho rằng từ đầu năm 2024 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng không có sự hòa hợp với nhau. Chị và anh D đã chính thức ly thân từ đầu năm 2024, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh D nên chị xin ly hôn để giải phóng cho nhau. Phía anh D muốn vợ chồng về đoàn tụ nên không đồng ý ly hôn với chị Ph.

Để thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị Ph và anh D, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã Văn Luông thấy rằng: Lời trình bày của chị Ph về tình trạng hôn nhân giữa chị và anh D là hoàn toàn đúng. Đại diện địa phương cũng xác nhận chị Ph và anh D chung sống không hòa thuận hạnh phúc, hiện vợ chồng anh, chị đã ly thân, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Ph, anh D đã đến mức trầm trọng, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc yêu cầu xin ly hôn của chị Ph đối với anh D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị Ph, anh D có 02 con chung là cháu cháu Hà Gia H, sinh ngày 11/8/2022 và cháu Hà Gia H, sinh ngày 11/12/2023.

Khi vợ chồng ly hôn, chị Ph xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung và không yêu cầu anh D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Về phía anh D đề nghị được nuôi dưỡng cháu Hà Gia H và cũng không yêu cầu chị Ph phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, chị Ph đang là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung. Hiện nay cả hai cháu vẫn còn nhỏ và đang ở cùng với mẹ với các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, ăn học của hai cháu phát triển bình thường. Để tránh sự xáo trộn cuộc sống đối với cả hai cháu nên giao cho một bên chăm sóc là phù hợp. Ngoài ra, qua quá trình xác minh, đại diện UBND xã Văn Luông đã thông tin cho Tòa án được biết, anh D thường xuyên đi làm xa, không có mặt ở nhà.

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin nuôi cả hai con chung của chị Ph là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khi chị Ph, anh D có yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định của pháp luật. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Ph không yêu cầu.

. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị Ph, anh D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này chị Ph, anh D có yêu cầu thì anh; chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.

. Về án phí: Chị Hà Thị Ph phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; 57; khoản 1, 2 Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 và Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Ph được ly hôn anh Hà Văn D.

2. Về con chung: Giao cho chị Hà Thị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung là cháu Hà Gia H, sinh ngày 11/8/2022 và cháu Hà Gia H, sinh ngày 11/12/2023 kể từ tháng 12 năm 2024 đến khi các cháu thành niên. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: Chị Hà Thị Ph phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Ph đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Th 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án theo Biên lai thu số 0004551 ngày 22/10/2024. Nay được chuyển thành án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Ph có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh D có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ