vanban.org

Bản án 32/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho chị Vương Thị Ph được ly hôn anh Phùng Văn Đ.

Giao cho chị Vương Thị Ph tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phùng Khôi Ng, sinh ngày 24/9/2022. Anh Phùng Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi cháu Ng; Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Các đương sự có quyền yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Cho chị Vương Thị Ph được ly hôn anh Phùng Văn Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM DƯƠNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30 - 8 - 2024
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nghị và bà Trần Thị Kim Duyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Mậu Lâm, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vương Thị Ph, sinh năm 1994; ĐKHKTT: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ hiện nay: Tổ 4, phường T, thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên, có mặt.

Bị đơn: Anh Phùng Văn Đ, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Vương Thị Ph trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Phùng Văn Đ kết hôn ngày 04/11/2020, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, chị sống chung cùng gia đình anh Đ. Quá trình chung sống, ban đầu hòa thuận hạnh phúc, đến tháng 8 năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên mẫu thuẫn, xô xát nhau. Tháng 04/2024 chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở tại tổ 4, phường T, thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm hay có trách nhiệm gì đến nhau. Chị xác định tình cảm không còn, vợ chồng không thể hàn gắn được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.

Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung là cháu Phùng Khôi Ng, sinh ngày 24/9/2022, hiện đang ở cùng chị. Ly hôn, chị đề nghị được nuôi cháu Ng, anh Đ cấp dưỡng nuôi cháu Ng 2.000.000đ/tháng cho đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi. Hiện chị và cháu Ng ở cùng bố mẹ đẻ chị ở tổ 4, phường T, thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên, chị làm Công nhân tại Công ty Cổ phần giấy H đóng trên địa bàn thành phố Th, thu nhập từ 8.000.000đ đến 9.000.000đ/tháng. Tại phiên tòa, chị Ph thay đổi yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi cháu Ng.

Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phùng Văn Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh thừa nhận như chị Ph trình bày về quan hệ hôn nhân, thời điểm phát sinh mâu thuẫn, thời điểm vợ chồng sống ly thân và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn. Trong thời gian ly thân, anh nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng chị Ph không đồng ý. Anh xác định tình cảm vẫn còn, anh không đồng ý ly hôn chị Ph.

Về con chung: Anh và chị Ph có 01 con chung là cháu Phùng Khôi Ng, sinh ngày 24/9/2022, hiện đang ở cùng chị Ph. Ly hôn, anh đề nghị được nuôi cháu Ng, không yêu cầu chị Ph cấp dưỡng nuôi con. Hiện anh ở cùng bố mẹ đẻ anh tại thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, anh làm nhân viên tại Công ty C đóng trên địa bàn huyện B, thu nhập bình quân 8.000.000đ/tháng.

Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn và bị đơn đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vương Thị Ph, cho chị Ph được ly hôn anh Phùng Văn Đ; Giao cho chị Ph tiếp tục nuôi cháu Ng, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con; Chị Ph phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Chị Vương Thị Ph có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phùng Văn Đ; anh Đ có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Vương Thị Ph và anh Phùng Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, chị Ph và anh Đ đều xác định: Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 8/2023, nguyên nhân do bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên xô xát, từ 04/2024 vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm hay có trách nhiệm gì đến nhau, anh Đ đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng chị Ph kiên quyết xin ly hôn. Chứng tỏ, hôn nhân của chị Ph và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Ph, cho chị Ph ly hôn anh Đ là phù hợp.

. Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị Ph và anh Đ có 01 con chung là cháu Phùng Khôi Ng, sinh ngày 24/9/2022, hiện đang ở cùng chị Ph. Ly hôn, chị Ph và anh Đ đều đề nghị được nuôi cháu Ng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy:

Chị Ph, anh Đ đều có chỗ ở, thu nhập ổn định (chị Ph từ 8.000.000đ đến 9.000.000đ/tháng, anh Đ 8.000.000đ/tháng), đủ khả năng và điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, do cháu Ng còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi) nên cần giao cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Ph yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 9/2024 đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi, tại phiên tòa chị Ph không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về quan hệ tài sản: Chị Ph và anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này mà sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu của đương sự.

. Về án phí: Chị Vương Thị Ph nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:

1. Cho chị Vương Thị Ph được ly hôn anh Phùng Văn Đ.

2. Giao cho chị Vương Thị Ph tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phùng Khôi Ng, sinh ngày 24/9/2022. Anh Phùng Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi cháu Ng; Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

Các đương sự có quyền yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và yêu cầu về cấp dưỡng.

3. Chị Vương Thị Ph phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu số: 0007019 ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương.

4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- VKSND huyện Tam Dương;

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

- Chi cục THADS huyện Tam Dương;

(Đã ký)

- UBND xã H;

- Các đương sự;

- Lưu HSVA, VP.

Nguyễn Thị Thu

Cỡ chữ