vanban.org

Bản án 32/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thanh T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thanh T được ly hôn với ông Bùi Thành N. Về con chung: Giao cháu Bùi Thị Như A, sinh ngày 05/10/2012 và cháu Bùi Minh S sinh ngày 30/12/2017 cho bà Cao Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Bùi Thị Như A và cháu Bùi Minh S đủ 18 (Mườ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28/6/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Lam

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Lâm Ngọc Hà

2. Ông Lê Văn Danh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2024/TLST-HNGĐ ngày 12/3/2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Cao Thanh T. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Bùi Thành N. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/02/2024, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 22/4/2024, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Cao Thanh T trình bày:

Bà Cao Thanh T và ông Bùi Thành N tự nguyện kết hôn, đã đăng ký kết hôn vào ngày 12/07/2017 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 65/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

Trước đây vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng thời gian hiện tại phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm, dẫn đến thường xuyên cãi nhau, ông Bùi Thành N không quan tâm đến cuộc sống của bà và các con dẫn đến việc bà và ông N sống ly thân như hiện nay.

Trong quá trình chung sống thì bà và ông Bùi Thành N có 02 con chung là cháu Bùi Thị Như A, sinh ngày 05/10/2012 và cháu Bùi Minh S, sinh ngày 30/12/2017. Hiện nay các cháu đang sống chung với bà tại ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

Nay bà Cao Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thanh T yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Thành N.

Về con chung: Bà Cao Thanh T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Bùi Thị Như A, sinh ngày 05/10/2012 và cháu Bùi Minh S. sinh ngày 30/12/2017 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Bùi Thành N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết..

Đối với bị đơn ông Bùi Thành N: Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Bùi Thành N, nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, ông Bùi Thành N vắng mặt, không tham gia tố tụng, không gửi cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

Bị đơn ông Bùi Thành N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, là chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thanh T đối với bị đơn ông Bùi Thành N, giải quyết cho bà Cao Thanh T và ông Bùi Thành N ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cả hai cháu Bùi Thị Như A, sinh ngày 05/10/2012 và cháu Bùi Minh S, sinh ngày 30/12/2017 cho bà Cao Thanh T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Ý, cháu S đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Cao Thanh T không yêu cầu ông Bùi Thành N cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Cao Thanh T tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Cao Thanh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thanh T yêu cầu ly hôn với ông Bùi Thành N; Về con chung: Bà Cao Thanh T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Bùi Thị Như A, sinh ngày 05/10/2012 và cháu Bùi Minh S sinh ngày 30/12/2017 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Bùi Thành N cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với bị đơn ông Bùi Thành N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thanh T và ông Bùi Thành N tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/7/2017 cho nên quan hệ hôn nhân giữa bà Cao Thanh T và ông Bùi Thành N là hợp pháp. Bà Cao Thanh T trình bày trong quá trình chung sống, giữa bà Cao Thanh T và ông Bùi Thành N phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tình tình không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên cải nhau, ông Bùi Thành N không quan tâm đến vợ con. Cho nên bà Cao Thanh T đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Thành N. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập các đương sự đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm tìm ra được cách thức để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng và khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng có thể đoàn tụ với nhau, nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay bị đơn ông Bùi Thành N không có ý kiến, cũng không đến tham dự phiên hòa giải, cũng không đến tham gia phiên tòa. Từ đó cho thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa hai người là trầm trọng, cuộc sống chung không có cơ sở để tồn tại, dẫn đến mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không thể đạt được. Do vậy việc bà Cao Thanh T yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Thành N là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thanh T và giải quyết cho bà Cao Thanh T được ly hôn với ông Bùi Thành N.

Về con chung: Bà Cao Thanh T và ông Bùi Thành N có 02 con chung là cháu Bùi Thị Như A, sinh ngày 05/10/2012 và cháu Bùi Minh S, sinh ngày 30/12/2017. Bà Cao Thanh T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con đến tuổi trưởng thành, bà không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay cả hai cháu Bùi Thị Như A và cháu Bùi Minh S đang sống chung với bà Cao Thanh T, được bà Cao Thanh T chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, bà T cũng có công việc, nguồn thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện để nuôi dưỡng các con, đồng thời cháu Bùi Thị Như A cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho các cháu, tránh ảnh hưởng đến tâm lý, tinh thần của hai cháu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cả hai cháu Bùi Thị Như A và Bùi Minh S cho bà Cao Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Ý, cháu S đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Bùi Thành N không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Cao Thanh T không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Cao Thanh T tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bà Cao Thanh T phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thanh T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thanh T được ly hôn với ông Bùi Thành N.

- Về con chung: Giao cháu Bùi Thị Như A, sinh ngày 05/10/2012 và cháu Bùi Minh S sinh ngày 30/12/2017 cho bà Cao Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Bùi Thị Như A và cháu Bùi Minh S đủ 18 (Mười tám) tuổi. Ông Bùi Thành N không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Cao Thanh T không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, ông Bùi Thành N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Cao Thanh T tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Cao Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0000814 ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng; Như vậy, bà Cao Thanh T đã nộp xong án phí sơ thẩm.

Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ