vanban.org

Bản án 32/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị S là vợ chồng.

Về con chung: HĐXX miễn xét. Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Dương Văn D - Nguyễn Thị S"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị S là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHẬN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06-5-2024
V/v: “Tranh chấp yêu cầu ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh;

2. Ông Danh Út Nhỏ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao không tham gia phiên tòa.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 99/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/4/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Dương Văn D - sinh năm 1965 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị S - sinh năm 1966 (có đơn xin vắng mặt).

Đia chỉ: Ấp A, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 09/4/2024 của nguyên đơn ông Dương Văn D trình bày: Tôi và vợ tôi có tìm hiểu nhau trước được 3 - 4 tháng nên đến năm 1988 chúng tôi được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương, hôn nhân tự nguyện và không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết hôn chúng tôi sống hạnh phúc đến năm 2008 thì đến vợ chồng tôi phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tôi sống không hợp nhau, không có tiếng nói chung, tình cảm không còn và chúng tôi đã ly thân từ năm 2008 đến nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi yêu cầu tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với vợ tôi là Nguyễn Thị S.

Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có 04 người con chung tên Dương Thị Tuyết L - sinh ngày 01/01/1987, Dương Thị Lan E - sinh ngày 10/9/1990, Dương Thị B - sinh ngày 01/01/1992 và Dương Thị Mỹ L1 - sinh ngày 28/10/1998, hiện nay các con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyện vọng:

Về hôn nhân: Tôi xin được ly hôn với vợ tôi là Nguyễn Thị S.

Về con chung: Chúng tôi có 04 người con chung tên Dương Thị Tuyết L - sinh ngày 01/01/1987, Dương Thị Lan E - sinh ngày 10/9/1990, Dương Thị B - sinh ngày 01/01/1992 và Dương Thị Mỹ L1 - sinh ngày 28/10/1998, hiện nay các con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Như trình bày trên tôi không yêu cầu thêm gì.

Tại bản tự khai đề ngày 12/4/2024 bị đơn bà Nguyễn Thị S trình bày: Tôi và chồng tôi có tìm hiểu nhau trước được 3 - 4 tháng nên đến năm 1988 chúng tôi được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương, hôn nhân tự nguyện và không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết hôn chúng tôi sống hạnh phúc đến năm 2008 thì đến vợ chồng tôi phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tôi sống không hợp nhau, không có tiếng nói chung, tình cảm không còn và chúng tôi đã ly thân từ năm 2008 đến nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chồng tôi là ông Dương Văn D.

Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có 04 người con chung tên Dương Thị Tuyết L - sinh ngày 01/01/1987, Dương Thị Lan E - sinh ngày 10/9/1990, Dương Thị B - sinh ngày 01/01/1992 và Dương Thị Mỹ L1 - sinh ngày 28/10/1998, hiện nay các con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyện vọng:

Về hôn nhân: Tôi đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chồng tôi là ông Dương Văn D.

Về con chung: Chúng tôi có 04 người con chung Dương Thị Tuyết L - sinh ngày 01/01/1987, Dương Thị Lan E - sinh ngày 10/9/1990, Dương Thị B - sinh ngày 01/01/1992 và Dương Thị Mỹ L1 - sinh ngày 28/10/1998, hiện nay các con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Như trình bày trên tôi không yêu cầu thêm gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị S là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Dương Văn D là nguyên đơn và bà Nguyễn Thị S là bị đơn không có mặt tại phiên tòa nhưng ông D và bà S có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị S là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Dương Văn D xác lập quan hệ hôn nhân với bà Nguyễn Thị S vào năm 1988, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Trong quá chung sống ông bà cũng không có đăng ký kết hôn, do ông bà không tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân không hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án thì ông D và bà S cũng thống nhất ly hôn. Mắc khác, tại thời điểm xét xử, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có hiệu lực nên căn cứ vào Điều 53 và 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ giữa ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị S là vợ chồng.

Về con chung: Ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị S xác định ông bà có 04 người con chung Dương Thị Tuyết L - sinh ngày 01/01/1987, Dương Thị Lan E - sinh ngày 10/9/1990, Dương Thị B - sinh ngày 01/01/1992 và Dương Thị Mỹ L1 - sinh ngày 28/10/1998, hiện nay các con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung: Ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị S xác định ông bà tự nguyện thỏa thuận nên ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

Về nợ chung: Ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị S xác định ông bà không thiếu nợ ai nên ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng ông Dương Văn D phải nộp do ông có yêu cầu xin ly hôn nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp trước đây là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004605 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, ông Dương Văn D đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 53 và Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông Dương Văn D và bà Nguyễn Thị S là vợ chồng.

2. Về con chung: HĐXX miễn xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét.

3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Là 300.000 đồng ông Dương Văn D phải nộp do ông có yêu cầu xin ly hôn nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp trước đây là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004605 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, ông Dương Văn D đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/5/2024).

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ