vanban.org

Bản án 32/2024/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 20/09/2024 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 32/2024/HC-ST Tuyên án 20/09/2024
Phúc thẩm Bản án 455/2025/HC-PT Tuyên án 30/10/2025
Phúc thẩm Bản án 455/2025/HC-PT Tuyên án 30/10/2025

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Đặng thị Th"
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 173 Luật Tố tụng hành chính; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH Đ K NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HC-ST
Ngày 20-9-2024
“V/v khiếu kiện hành vi hành chính
trong lĩnh vực đất đai và bồi th ờng
thiệt hại”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Đ K NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông K’Tiêng

Các Hội thẩm nh n d n: Ông Bùi Xuân Vấn và ông Nguyễn Xuân Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Đoàn Thùy An là Th ký Tòa án nhân dân tỉnh Đ k Nông

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 20-9-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đ k Nông xét xử s th m công khai vụ án hành chính thụ lý số: 65/2024/TLST-HC ngày 05-7-2024 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai và bồi thường thiệt hại”, theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử s th m số: 57/2024/QĐXXST-HC ngày 06-9-2024, giữa các đ ng sự:

1. Ng ời khởi kiện: Bà Đặng Thị T; địa chỉ: Tổ dân phố I, ph ờng N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông – Có đ n xin xét xử v ng mặt.

2. Ng ời bị kiện:

2.1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G, tỉnh Đăk Nông.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thạch Cảnh T1, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố G, tỉnh Đăk Nông – Có đ n xin xét xử v ng mặt.

2.2. Ủy ban nhân dân ph ờng N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông.

Ng ời đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tr ờng C – Chức vụ: Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân ph ờng N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông; địa chỉ: Ph ờng N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông – Có đ n xin xét xử v ng mặt.

3. Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Văn H và bà Võ Thị T2; địa chỉ: Tổ dân phố I, ph ờng N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông – Có đ n xin xét xử v ng mặt.

NỘI DUNG V ÁN

1. Theo đơn khởi kiện ngày 02-7-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện trình bày: Năm 1979, gia đình bà Võ Thị T2 và ông Đặng Văn H khai hoang diện tích đất khoảng 01 ha tại tổ dân phố D, ph ờng N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông. Năm 1995, gia đình bà T2 đ ợc cấp GCNQSDĐ đối với các thửa đất số 73, 81, 88. Trong năm 1995 ông H và bà T2 xây dựng căn nhà gỗ trên đất để sinh sống đến năm 2003 thì tặng cho bà Đặng Thị T một phần diện tích đất và căn nhà trên đất nh ng ch a làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất. Cùng năm 2003, bà T sửa sang và xây dựng thêm diện tích nhà, công trình khoảng 140m2. Đến năm 2013, gia đình bà T2 bị nhà n ớc thu hồi một phần diện tích đất khoảng 2000m2 và một phần diện tích 63,87m2 nhà xây lửng th ng ván để xây dựng bờ kè hồ trung tâm thành phố G. Theo phiếu triết tính năm 2013 thì nhà n ớc đã bồi th ờng, hỗ trợ nhà, công trình g n liền trên đất theo hệ số 80% giá trị xây dựng. Sau khi thu hồi thì phần diện tích nhà còn lại trên đất khoảng 77m2.

Năm 2020, cũng tại vị trí này, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố G ban hành quyết định số 74, quyết định số 95/QĐ-UBND thu hồi toàn bộ 3 thửa đất của gia đình gồm thửa 73, 81, 88 tờ bản đồ số 13 tổng diện tích là 6.432,9m2 và công trình nhà trên đất có diện tích 77m2 để làm khu tái định c phía đông hồ trung tâm. Ngày 30/6/2021, UBND thành phố G ban hành quyết định phê duyệt ph ng án bồi th ờng số 660/QĐ-UBND để bồi th ờng thửa đất số 73, 81, 88 tờ bản đồ 13, riêng đối với nhà cửa, công trình kiến trúc trên đất UBND lại xác định gia đình xây dựng năm 2007 nên chỉ hỗ trợ cho gia đình 50% giá trị xây dựng với số tiền 105.980.647 đồng trong khi nhà của gia đình đã làm từ năm 1995 và sửa chữa vào năm 2003 và tr ớc kia đã đ ợc nhà n ớc hỗ trợ 80%. Sau đó UBND thành phố ban hành quyết định c ỡng chế số 716/QĐ-UBND ngày 13/4/2023 về việc c ỡng chế thu hồi đất của bà T2 và tiến hành c ỡng chế phá dỡ căn nhà của bà T nh ng không đ a bà vào tham gia trong vụ việc c ỡng chế là vi phạm pháp luật, ảnh h ởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T. Nay bà T khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên bố hành vi hành chính của Chủ tịch UBND thành phố G về việc ban hành quyết định hành chính c ỡng chế phá dỡ nhà nh ng không đ a bà T là ng ời liên quan là vi phạm pháp luật. Tuyên bố hành vi hành chính của UBND ph ờng N không giao quyết định c ỡng chế, không giao các thông báo về ngày giờ thực hiện việc c ỡng chế là hành vi hành chính trái pháp luật; buộc Chủ tịch UBND thành phố G và UBND ph ờng N phải liên đới bồi th ờng số tiền thiệt hại là 50 triệu đồng do hành vi trái pháp luật phá dỡ nhà, làm h hỏng toàn bộ tài sản nh bàn, ghế, gi ờng, tủ, máy xay cà phê, máy t ới cà phê…

Qúa trình giải quyết vụ án, bà Đặng Thị T rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc Chủ tịch UBND thành phố G và UBND ph ờng N phải liên đới bồi th ờng thiệt hại số tiền 50.000.000 đồng. Đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu này theo quy định.

2. Người bị kiện trình bày:

2.1. Chủ tịch UBND thành phố G trình bày:Bà Đặng Thị T không thuộc đối t ợng thu hồi đất nên Ban quản lý dự án&phát triển quỹ đất thành phố G không bàn giao các giấy tờ liên quan đến bồi th ờng, hỗ trợ tái định c cho bà T mà bàn giao cho bà Võ Thị T2 (mẹ của bà T) là đối t ợng thu hồi đất khi Nhà n ớc thu hồi đất, đồng thời bà T2 đã ký nhận các văn bản liên quan đến việc c ỡng chế là đúng quy định của pháp luật. Ngày 09/5/2023, B thực hiện c ỡng chế thành phố G đã áp dụng biện pháp c ỡng chế thu hồi đất theo quy định. Tài sản của gia đình bà Đặng Thị T xây dựng trên đất của bà Võ Thị T2 đã đ ợc lập biên bản ghi nhận và chuyển về trụ sở của UBND ph ờng N trông giữ, bảo quản theo quy định (có kèm theo biên bản kiểm kê tài sản ngày 09/5/2023). Ngày 09/5/2024, UBND ph ờng N đã ban hành thông báo số 35 gửi đến hộ bà Đặng Thị T để liên hệ đến UBND ph ờng N nhận lại các tài sản của gia đình tr ớc ngày 30/5/2024.

2.2. Ủy ban nh n d n phường N trình bày: Thực hiện Quyết định c ỡng chế thu hồi đất và tài sản trên đất của bà Võ Thị T2. Ngày 09-5-2024, UBND ph ờng N ban hành Thông báo số: 35/TB-UBND về việc nhận lại tài sản sau khi thực hiện Quyết định số 716/QĐ-UBND ngày 13-4-2023 của Chủ tịch UBND thành phố G về việc c ỡng chế quyết định thu hồi đất khi Nhà n ớc thu hồi đất thuộc hạng mục: Khi tái định c phía Đông Hồ Trung tâm – Công trình: Hồ Gia N.

3. Ông Đặng Văn H và bà VõThị T3 trình bày: Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị T, ông H và bà T3 không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

4. Tại phiên tòa các đ ng sự đều v ng mặt và có đ n xin xét xử v ng mặt, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 2 Điều 173; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính. Áp dụng khoản 4 Điều 71 Luật đất đai năm 2013: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị T: Tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố G Chủ tịch UBND thành phố G ban hành quyết định hành chính c ỡng chế phá dỡ nhà nh ng không đ a bà T là ng ời liên quan là vi phạm pháp luật; tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân ph ờng N không giao quyết định c ỡng chế, không giao các thông báo về ngày giờ thực hiện việc c ỡng chế là hành vi hành chính trái pháp luật.

NH N Đ NH CỦA TO ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã đ ợc kiểm tra, xem xét tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 09-5-2024, UBND ph ờng N ban hành Thông báo số: 35/TB-UBND về việc nhận lại tài sản sau khi thực hiện Quyết định số 716/QĐ-UBND ngày 13-4-2023 của Chủ tịch UBND thành phố G về việc c ỡng chế quyết định thu hồi đất của bà Đặng Thị T. Ngày 02-7-2024, bà Đặng Thị T khởi kiện là trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

[1.2]. Về th m quyền giải quyết: Căn cứ khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính thì vụ án thuộc th m quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.

[2]. Đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị T.

[2.1]. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị T đối với yêu cầu buộc Chủ tịch UBND thành phố G và UBND ph ờng N, thành phố G liên đới bồi th ờng thiệt hại số tiền 50.000.000 đồng.

[2.2]. Tại Thông báo số 416/TB-BTHCC ngày 31-5-2022 của UBND thành phố G về việc tổ chức vận động các hộ dân tr ớc khi thực hiện Quyết định c ỡng chế thu hồi đất, Thông báo số 540/TB-BTHCC ngày 10-6-2022 của UBND thành phố G về việc tổ chức vận động các hộ dân tr ớc khi thực hiện Quyết định c ỡng chế thu hồi đất, Văn bản trả lời đ n kiến nghị số 120/KN-QLDA&PTQĐ ngày 25-10-2022 của Ban QLDA&PTQĐ thuộc UBND thành phố G trả lời đ n kiến nghị của bà Đặng Thị T con gái bà Võ Thị T2, UBND thành phố G và các đ n vị trực thuộc đều xác định căn nhà và các tài sản liên quan trên diện tích đất thu hồi của bà Võ Thị T2 là của bà Đặng Thị T.

[2.3]. Tại Quyết định số: 716/QĐ-UBND ngày 13-4-2023 của Chủ tịch UBND thành phố G quyết định c ỡng chế thu hồi đất đối với hộ bà Võ Thị T2 đối với thửa đất số 73, 81, 88 mảnh trích đo địa chính số 13-2018, diện tích 6423,9m2 đất trồng cây lâu năm tại ph ờng N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông do không chấp hành Quyết định thu hồi đất của UBND thành phố G. Ngày 17-4-2023, UBND thực hiện bàn giao Quyết định c ỡng chế thu hồi đất cho bà Võ Thị T2. Ngày 08-5-2023, bàn giao Thông báo về việc điều chỉnh thời gian thực hiện Quyết định c ỡng chế thu hồi đất (nh ng bà T2 không nhận). Ngày 09-5-2023, B thực hiện c ỡng chế thành phố G đã thực hiện áp dụng biện pháp c ỡng chế thu hồi đất theo quy định, tài sản của bà Đặng Thị T xây dựng trên đất của bà Võ Thị T2 đ ợc lập biên bản và chuyển đến UBND ph ờng N trông giữ, bảo quản theo quy định.

[2.4]. Khoản 4 Điều 71 Luật Đất đai năm 2013 quy định trình tự, thủ tục thực hiện c ỡng chế thu hồi đất:

“a) Trước khi tiến hành cưỡng chế, Chủ tịch Ủy ban nh n d n cấp huyện quyết định thành lập Ban thực hiện cưỡng chế;

b) Ban thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế; nếu người bị cưỡng chế chấp hành thì B thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp hành. Việc bàn giao đất được thực hiện chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày lập biên bản.

Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì Ban thực hiện cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế;

c) Ban thực hiện cưỡng chế có quyền buộc người bị cưỡng chế và những người có liên quan phải ra khỏi khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế; nếu không thực hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế và người có liên quan cùng tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế.

Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản thì B thực hiện cưỡng chế phải lập biên bản, tổ chức thực hiện bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật và thông báo cho người có tài sản nhận lại tài sản.”

[2.5]. Nh vậy, Chủ tịch UBND thành phố G ban hành Thông báo c ỡng chế thu hồi đất, Thông báo điều chỉnh thời gian thực hiện Quyết định c ỡng chế thu hồi đất nh ng không thông báo cho bà Đặng Thị T là ng ời có tài sản trên đất c ỡng chế và tự ý chuyển tài sản của bà T ra khỏi khu đất c ỡng chế, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bà T, vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 71 của Luật Đất đai, . Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị T về việc tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố G Chủ tịch UBND thành phố G ban hành quyết định hành chính c ỡng chế phá dỡ nhà nh ng không đ a bà T là ng ời liên quan là vi phạm pháp luật. Tuyên bố hành vi hành chính của UBND ph ờng N không giao quyết định c ỡng chế, không giao các thông báo về ngày giờ thực hiện việc c ỡng chế là hành vi hành chính trái pháp luật.

[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện đ ợc chấp nhận nên ng ời bị kiện phải chịu án phí s th m; trả lại ng ời khởi kiện tiền tạm ứng án phí s th m đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 2 Điều 173; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính. Áp dụng khoản 4 Điều 71 Luật đất đai năm 2013: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị T:

1.1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị T đối với yêu cầu buộc Chủ tịch UBND thành phố G và UBND ph ờng N, thành phố G liên đới bồi th ờng thiệt hại số tiền 50.000.000 đồng.

1.2. Tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố G Chủ tịch UBND thành phố G ban hành quyết định hành chính c ỡng chế phá dỡ nhà nh ng không đ a bà T là ng ời liên quan là vi phạm pháp luật.

1.3. Tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân ph ờng N không giao quyết định c ỡng chế, không giao các thông báo về ngày giờ thực hiện việc c ỡng chế là hành vi hành chính trái pháp luật

2. Về án phí s th m: Căn cứ khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

2.1. Ủy ban nhân dân thành phố G, tỉnh Đăk Nông và Ủy ban nhân dân ph ờng N mỗi ng ời phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính s th m.

2.2. Trả lại cho bà Đặng Thị T 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí s th m đã nộp theo Biên lai số: 0002212 ngày 04-7-2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông.

3. Về quyền kháng cáo: Các đ ng sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án s th m trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; các đ ng sự v ng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án s th m trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày giao bản án hoặc niêm yết bản án đúng quy định pháp luật.

Cỡ chữ