- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự thụ lý số: 256/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022, bị cáo Trương Minh Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gâ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Minh Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HS-ST Ngày 09-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Quyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ba
Ông Nguyễn Ngọc Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đồng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 256/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2023/HSST-QĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023, đối bị cáo:
Họ và tên: Trương Minh Đ - sinh năm 1999 tại Đồng Nai; Giới tính: nam; Nơi cư trú: tổ 7, ấp P1, xã P, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn T1 – sinh năm 1970, con bà Nguyễn Thị L– sinh năm 1976; Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt ngày 08/9/2022, đến ngày 11/9/2022 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 2003.
Địa chỉ: ấp 1C, xã P, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 50 ngày 19/3/2021, Nguyễn Minh T, Huỳnh Ngọc Kim Chi, Nguyễn Thúy H, Trương Quốc V và Phạm Thị Ngọc Tr ngồi uống nước tại quán của Chi ở ấp P1, xã P, huyện Long Thành. Lúc này bàn bên cạnh có nhóm gồm Trương Minh Đ, Nguyễn Văn L1 (sinh ngày 16/3/2005), Trần Long P2, Phạm Ngọc A (sinh ngày 05/6/2005) và một số bạn tên Khôi, Tâm, Tuân, Phúc và Hoàng (chưa rõ họ, lai lịch, địa chỉ) đang ngồi uống nước thì P2 nói với L1 rằng Nguyễn Minh T nói nhóm mình là “Băng con muỗi”. Nghe vậy, P2 kêu L1 đi qua hỏi chuyện Thành, nếu không đàng hoàng thì đánh Thành, L1 đồng ý và đi sang hỏi T vừa nói xấu gì, thì T trả lời không nói gì, thì hai bên cự cãi xảy ra mâu thuẫn. L1 dùng chân đạp trúng vào mạn sườn bên trái T và dùng tay đánh 01 cái trúng vào vùng mặt T, L1 tiếp tục dùng ghế nhựa (màu đỏ) đánh 02 cái trúng đầu của T, Đ thấy vậy cầm ghế nhựa đến đánh 04 cái trúng vào đầu của Thành làm ghế nhựa bị bể, gãy. Cùng lúc này, P2 và Ngọc A mỗi người cầm một ghế nhựa để đánh T thì T bỏ chạy ra hướng Quốc lộ 51 rồi chạy tiếp vào một đường hẻm. Đ, L1, Ngọc A và P2 đuổi theo Thành để đánh, trên đường đuổi theo Đ nhặt 01 đoạn cây gỗ cầm trên tay, khi đuổi kịp, Đ dùng tay nắm áo và đẩy anh T vào tường rào doạ đánh Thành, P2 chạy đến thấy đầu Thành bị chảy máu nên căn ngăn thì Đ buông T ra. Sau đó, T được mọi người đưa đi cấp cứu. Đến ngày 20/3/2021 anh T làm đơn tố cáo gửi đến Công an xã P, lập hồ sơ chuyến đến Công an huyện Long Thành để điều tra giải quyết theo thẩm quyền.
Sau khi phạm tội Trương Minh Đ bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 09/9/2022 Đ bị bắt theo Quyết định truy nã.
Tại bản kết luận giám định số 0356-TgT/2021 của Trung tâm pháp y sở y tế Đồng Nai ngày 13/5/2021 kết luận thương tích của Nguyễn Minh T như sau:
Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo đỉnh đầu kích thước 06 x 0,3cm (Áp dụng chương 8, mục I.2) tỷ lệ 01%.
- Sẹo vùng đỉnh kích thước 01 x 0,3cm (Áp dụng chương 8, mục I.1) tỷ lệ 01 %.
- Sẹo thái dương trái kích thước 0,7 x 0,3cm (Áp dụng chương 8, mục I.1) tỷ lệ 01 %.
- Sẹo thái dương phải kích thước 0,5 x 0,5cm (Áp dụng chương 8, mục I.1) tỷ lệ 01%.
- Sẹo thái dương phải kích thước 0,4 x 0,4cm (Áp dụng chương 8, mục I.1) tỷ lệ 01%.
- 2. Kết luận:
Tỷ lệ tổn thương cơ thể (áp dụng theo phương pháp cộng) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 06%.
Tại bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 0357-TgT/2020 của Trung tâm pháp y sở y tế Đồng Nai ngày 25/5/2021 kết luận thương tích của Nguyễn Minh T như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định hồ sơ bệnh án và tài liệu hiện có:
- Tổn thương chính: Vết thương đỉnh đầu thẳng, dài 05 cm. 05 vết thương
kích thước 0,5 cm rải rác vùng đỉnh + thái dương phải.
2. Kết luận theo nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định:
- Vết thương đỉnh, thẳng hàng để lại sẹo kích thước 06 x 0,3 bờ mép gọn. Tổn thương này do vật sắt hoặc tày có cạnh sắt tác động trực tiếp với lực vừa đủ theo hướng từ trên xuống dưới hơi chếch từ trước ra sau. 03 ghế tựa còn nguyên không gãy, vỡ do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành Đồng Nai cung cấp không gây nên tổn thương này. 03 ghế tựa nếu tác động khi ghế đã gãy vỡ (tại vị trí gãy, vỡ) thì cũng có thể gây ra tổn thương này.
Vết thương đỉnh đầu để lại sẹo kích thước 01 x 0,3cm. Tổn thương này do vật tày tác động với lực vừa đủ theo hướng từ trên xuống dưới và hơi chếch từ trải qua phải, 03 ghế tựa do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành – Đồng Nai cung cấp có thể gây nên tổn thương này.
Vết thương thái dương trái (đỉnh lệch trái) để lại sẹo kích thước 07 x 0,3cm. Tổn thương này do vật tày tác động với lực vừa đủ theo hướng từ trên xuống dưới và hơi chếch từ trái qua phải, 03 ghế tựa do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành – Đồng Nai cung cấp có thể gây nên tổn thương này.
Vết thương thái dương phải để lại sẹo kích thước 05 x 0,5cm. Tổn thương này do vật tày tác động với lực vừa đủ theo hướng từ trên xuống dưới và từ phải qua trái, 03 ghế tựa do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành Đồng Nai cung cấp có thể gây nên tổn thương này.
Vết thương thái dương phải để lại sẹo kích thước 0,4 x 0,4cm. Tổn thương này do vật tày tác động với lực vừa đủ theo hướng từ trên xuống dưới và từ phải qua trái, 03 ghế tựa do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành Đồng Nai cung cấp có thể gây nên tổn thương này.
Về vật chứng vụ án: 01 số mảnh vỡ của 03 ghế màu đỏ dùng làm hung khí đựng trong túi nylon màu trắng, 03 ghế nhựa màu đỏ bị gãy bẻ không còn nguyên vẹn không còn giá trị sử dụng, (số vật chứng này đã được xử lý tại Bản án số 196/2022/HS-ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành). Riêng 01 đoạn gỗ nêu trên sau khi gây án Đ vứt bỏ nên Cơ quan điều tra không thu hồi được,
Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án số 196/2022/HS-ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Tại cáo trạng số 245/CT-VKSLT ngày 22 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Trương Minh Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuyên bị cáo Trương Minh Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt, Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Trương Minh Đ: từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Tại phiên tòa bị hại anh Nguyễn Minh T xin giảm nhẹ hình phạt cho bi cáo Đ, không yêu cầu bi cáo Đ bồi thường gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận tội của bị cáo Trương Minh Đ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với lời khai của Trần Long P2, bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 20 giờ 50 ngày 19/3/2021 tại ấp P1, xã P, huyện Long Thành, do có mâu thuẫn Trương Minh Đ vai trò giúp sức, trực tiếp thực hành cùng đồng phạm sử dụng ghế nhựa đánh 04 cái trúng vào đầu của anh Nguyễn Minh T gây thương tích.
Hành vi của bị cáo Trương Minh Đ đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo theo tội danh và khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Đối với hành vi của Trần Long P2, Nguyễn Văn L1, Phạm Ngọc A đồng phạm với bi cáo Đ, đã được xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 196/2022/HS-ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng lựa chọn những cách xử sự phù hợp khi nhận thức được việc dùng hung khí đánh vào cơ thể con người sẽ gây ra những thương tích nặng nề, thậm chí có thể dẫn đến tử vong, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi đánh anh T.
Hành vi của bị cáo và đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe của anh Nguyễn Minh T, ngoài ra còn gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Vai trò của bi cáo Đ là đồng phạm giúp sức, trực tiếp thực hiện hành vi gây thương tích cho anh T.
Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Minh Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng: 01 số mảnh vỡ của 03 ghế màu đỏ dùng làm hung khí đựng trong túi nylon màu trắng, 03 ghế nhựa màu đỏ bị gãy bẻ không còn nguyên vẹn không còn giá trị sử dụng, số vật chứng này đã được xử lý tại Bản án số 196/2022/HS-ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Long thành. Riêng 01 đoạn gỗ nêu trên sau khi gây án Đ vứt bỏ nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án số 196/2022/HS-ST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành và tại phiên tòa bị hại anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Trương Minh Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Trương Minh Đ: 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/9/2022.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trương Minh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND huyện Long Thành; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Công an huyện Long Thành; - Chi cục THADS huyện Long Thành; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân Nguyễn Văn Ba Nguyễn Ngọc Nam | Phạm Ngọc Quyền Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Ngọc Quyền |