vanban.org

Bản án 32/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 25/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh M 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2023 đến ngày 28/3/2023. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GR
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HSST
Ngày: 25 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GR, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhiên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Minh Tuấn

Ông Hà Bửu Khánh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phước Đức – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện GR, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GR tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện GR, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2023/HSST ngày 17 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2023/QĐXXST – HS ngày 27 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh M, sinh ngày 21/5/2000, tại huyện GR. Nơi cư trú: ấp TT, xã TH, huyện GR, tỉnh KG; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Lâm bà Nguyễn Thị Diệu; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ ngày 17/01/2023 đến ngày 20/01/2023 chuyển sang tạm giam và đến ngày 29/3/2023 được thay thế bằng niện pháp bảo lĩnh (bị cáo có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Văn L – Văn phòng luật sư Nguyễn Văn Lthuộc đoàn luật sư tỉnh KG (có mặt).

- Bị hại: Anh Đào Bá V, sinh năm 2002 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp Thạnh Nguyên, xã Thạnh Hưng, huyện GR, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ, ngày 16 tháng 01 năm 2023, bị cáo Nguyễn Minh M đến nhà anh Lê Thanh Phương cư ngụ tại ấp TT, xã TH, huyện GR, tỉnh KG để dự đám cúng tổ nghề. Tại đây bị cáo M gặp Đào Bá V, bị cáo nhớ lại việc bị nhóm của V đánh trước đây nên muốn đánh lại V để trả thù. Khoảng 20 giờ cùng ngày, trong lúc mọi người đang ngồi uống rượu thì bị cáo M đi ra phía sau nhà bếp của anh Phương lấy dao Thái Lan bằng kim loại cán màu vàng, mài vào đá để giảm độ sắc bén rồi bỏ vào túi quần đi ra ngoài tiếp tục ngồi tham gia uống rượu. Đến khoảng 22 giờ 30 phút thì mọi người nghỉ không uống rượu chuẩn bị đi về. M thấy V chạy xe một mình nên lên xe đuổi theo vượt mặt V đến cầu Lung Sen cách nhà anh Phương khoảng 500 mét thì dừng xe lại, khi V điều khiển xe vừa xuống dốc cầu thì M chặn xe dừng lại, lúc này V đang ngồi trên xe thì M đi vòng qua bên trái của V, dùng tay phải câu cổ, tay trái cầm dao Thái Lan kề vào cổ cứa (cắt) 03 nhát theo hướng từ bên phải sang bên trái dẫn đến cổ V bị đứt và ra máu. Sau khi thực hiện hành vi xong M lên xe bỏ đi và ném cây dao xuống sống. V thì được bạn đi cùng đưa đến bệnh viện khâu vết thương đến sáng hôm sau đến Công an trình báo vụ việc và yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Minh M.

Vật chứng trong vụ án thu giữ được: Không thu giữ được

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 61/TgT, ngày 27 tháng 01 năm 2023 của Trung Tâm Pháp tỉnh Kiên Giang đối với Đào Bá V.

Phần t lu n:

- Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo phần mềm vùng cổ (03 vết).

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 10% (Mười phần trăm).

- Vật gây thương tích: Vật có cạnh sắc.

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện GR đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Minh M về tội “Cố ý gây thương tích”.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS-GR, ngày 17/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện GR đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh M về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên Tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Minh M về tội “Cố ý gây thương tích”. Kiểm sát viên luận tội căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội; Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 591 Bộ luật Dân sự, buộc Nguyễn Minh M có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và các chi phí khác cho Đào Bá V tổng số tiền 10.270.000 đồng. Trong đó tiền thuốc 1.500.000 đồng; tiền tàu xe đi lại 800.000 đồng; chi phí ăn uống bồi dưỡng trong 10 ngày điều trị bệnh 100.000 đồng/01 người/ ngày x 10 ngày = 1.000.000 đồng; tiền công lao động bị thiệt hại do thời gian nghỉ điều trị 10 ngày x 250.000 đồng = 2.500.000 đồng; tiền tổ thất tinh thân do sức khỏe bị xâm hại 03 tháng x 1.490.000 đồng = 4.470.000 đồng.

Biện pháp tư pháp: Không

Người bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm:

Về tội danh: Thống nhất tội danh mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy mức độ, hành vi của bị cáo M không mong muốn tước đoạt sinh mạng của bị hại. Bị cáo lần đầu phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại chi phí điều trị, nhưng gia đình không có nhận nên gia đình bị cáo đã nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện GR; bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo là con út trong gia đình, sống cùng với cha mẹ, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Nên đề Hội đồng xét xử áp dụng điểm b; i; h s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự xử bị cáo M tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ cũng đủ nghiêm, nhằm tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa sai lầm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Minh M xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện GR, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện GR, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Do bị cáo và bị hại có mâu thuẫn với nhau từ trước, nên vào ngày 16/01/2023 bị cáo M gặp lại bị hại anh V tại nhà anh Phương trong tiệc cúng tổ. Sau khi ăn uống xong đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày mọi người ra về, bị cáo thấy anh V cũng ra về nên chạy xe đuổi theo đến cầu Lung Sen, bị cáo vượt lên chặn đầu xe của anh V, dùng tay câu cổ anh V một tay cầm dao cứa vào cổ anh V 03 nhát dẫn đến bị đứt và chảy máu. Sau đó bị cáo ném dao xuống sống, lên xe chạy về nhà. Anh V được bạn đi cùng đưa đến bệnh viện khâu vết thương. Tại thời điểm phạm tội bị cáo đã đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo gây thương tích cho bị hại được thực hiện với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại và gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm là dao cứa (cắt) vào cổ của anh V với 03 nhát cắt gây thương tích là 10%. Bị cáo phải nhận thức được sức khỏe của con người là vô cùng quý giá, được mọi người tôn trọng và pháp luật bảo vệ, không ai có quyền xâm hại nếu cố ý xâm hại sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Giữa bị cáo và bị hại chỉ có mâu thuẫn cá nhân với nhau, không có gì trầm trọng đôi bên không tìm cách giải quyết mâu thuẫn một cách ôn hòa. Trái lại bị cáo lại thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, dùng hung khí nguy hiểm là dao sắc để gây thương tích cho bị hại, hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện GR truy tố bị cáo Nguyễn Minh M phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; đã bồi thường thiệt hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình phạt cho bị cáo nên áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt tù nhưng thấp hơn so với mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đào Bá V yêu Hội đồng xét xử xem xét trách nhiệm dân sự buộc bị cáo phải bồi thường theo quy định của pháp luật như cáo trạng Viện kiểm sát đã nêu và gia đình bị cáo M đã nộp số tiền 10.270.000 đồng theo biên thu số 0006621, ngày 20/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện GR, tỉnh Kiên Giang.

Về xử lý vật chứng: Do không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là 10.270.000 đồng x 5% = 513.500 đồng (năm trăm mười hai nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh M 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2023 đến ngày 28/3/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Nguyễn Minh M bồi thường thiệt hại và các chi phí khác cho anh Đào Bá V số tiền là 10.270.000 đồng (mười triệu, hai trăm bảy mươi nghìn đồng). Gia đình bị cáo M đã nộp khắc phục số tiền 10.270.000 đồng theo biên thu sô 0006621, ngày 20/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện GR, tỉnh Kiên Giang.

3. Về xử lý vật chứng: Không xem xét

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Minh M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là 513.500 đồng (năm trăm mười ba nghìn năm trăm đồng).

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./. Nơi nh n:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh;

Cỡ chữ