- Tranh chấp gì? án hình sự — "NXT 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điều 47; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 32/2023/HS-ST Ngày: 14-02-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Nhâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Nguyễn Phƣơng Thà
- Ông Hứa Thanh Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến là Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
NXT, sinh năm 1996 tại NA; thƣờng trú: X18, xã QV, huyện QL, tỉnh N; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông NXI sinh năm 1974 và bà NTH, sinh năm 1974, bị cáo chƣa có vợ, con; tiền án: Bản án số 05/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lƣu, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/9/2019. Bản án số 77/2020/HS-ST ngày 29/7/2020 Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 (hai mƣơi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/10/2021; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/9/2022, bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị hại: NVL, sinh ngày 1986; thƣờng trú: 103/4 khu phố BPB, phƣờng BC, thành phố TA, tỉnh B, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
NXT và đối tƣợng tên T1 (chƣa rõ lai lịch, địa chỉ) là bạn mới quen. Do không có việc làm nên T và T1 rủ nhau đi trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 21/9/2022, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ATTILA (không có biển số) chở T mang theo 01 đoản bẻ khóa bằng kim loại, hình chữ L đi tìm trộm cắp xe mô tô của ngƣời dân. Khi đến bãi đậu xe tải tại số 1/44 khu phố Bình Thuận 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, T và T1 phát hiện xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: Wave S, biển số: 36B2-416.84, màu sơn: Đen – Bạc do ông NVL đứng tên chủ sở hữu, dựng trong căn nhà tạm không có ngƣời trông coi. T1 điều khiển xe ATTILA đợi bên ngoài cảnh giới, T đi bộ vào trong căn nhà dùng đoản bẻ khóa xe mô tô biển số: 36B2-416.84. Bẻ khóa xong, T khởi động và điều khiển xe đi cùng T1 đến khu vực ngã tƣ 550 thuộc phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, T1 bán xe mô tô vừa trộm đƣợc cho một đối tƣợng không rõ lai lịch, địa chỉ với giá 2.00.000 đồng. T1 chia cho T số tiền 1.000.000 đồng, số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 29/9/2022, T1 tiếp tục điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ATTILA (không biển số) chở T ngồi phía sau mang theo 01 đoản bẻ khóa đến bãi đậu xe tải tại số 1/44 khu phố Bình Thuận 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An để tìm lấy trộm xe mô tô. Khi T vừa bƣớc vào căn nhà tạm thì bị chủ bãi đậu xe là ông ĐVXN phát hiện. Nghi ngờ T có ý định trộm cắp tài sản nên ông N giữ T lại, đối tƣợng tên T1 điều khiển xe mô tô chạy thoát. Quá trình làm việc với Công an phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe mô tô biển số: 36B2-416.84 cùng đối tƣợng tên Tài vào ngày 21/9/2022.
Vật chứng thu giữ: 01 thanh kim loại hình lục giác dài 06cm, một đầu đƣợc mài dẹp, 01 ống kim loại hình chữ L, chiều dài 10x04cm.
Tại biên bản và kết luận định giá tài sản ngày 07/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố Thuận An kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại: Wave S, biển số: 36B2-416.84, màu sơn: Đen – Bạc, số khung: CY236440, số máy: 52E344037, đăng ký lần đầu: tháng 10/2012 trị giá 9.500.000 đồng.
Cáo trạng số 48/CT-VKS-TA ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo NXT về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo NXT mức hình phạt từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thanh kim loại hình lục giác dài 06cm, một đầu đƣợc mài dẹp, 01 ống kim loại hình chữ L, chiều dài 10x04cm là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: ông NVL yêu cầu TXT bồi thƣờng thiệt hại trị giá xe mô tô nhãn hiệu: Honda, biển số: 36B2-416.84 với số tiền là 9.500.000 đồng.
Đối với đối tƣợng tên T1 cùng tham gia thực hiện tội phạm và đối tƣợng tiêu thụ xe do Thành chiếm đoạt. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhƣng chƣa xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ nên sẽ tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
- Ý kiến bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ý kiến bị hại NVL: Yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thiệt hại trị giá xe mô tô nhãn hiệu: Honda, biển số: 36B2-416.84 với số tiền là 9.500.000 đồng và đề nghị xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp. Bị cáo NXT có yêu cầu xét xử vắng mặt vào ngày 08/0/2023 đơn đƣợc Nhà tạm giữ Công an thành phố Thuận An xác nhận. Xét thấy, đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử, phù hợp với điểm c và điểm d khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.
Quá trình tố tụng bị cáo NXT khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 21/9/2022, tại khu phố Bình Thuận 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Xuân Thành cùng đối tƣợng tên T1 (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại: Wave S, biển số: 36B2-416.84, màu sơn: Đen – Bạc, số khung: CY236440, số máy: 52E344037 của ông NVL trị giá 9.500.000 đồng, bị cáo NXT có 02 tiền án nhƣng chƣa đƣợc xóa án tích mà tiếp tục phạm tội mới thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức đƣợc hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi, muốn có tài sản sử dụng không phải bằng sức lao động của mình nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả và pháp luật. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đối với bị cáo NXT là phù hợp nên chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thanh kim loại hình lục giác dài 06cm, một đầu đƣợc mài dẹp, 01 ống kim loại hình chữ L, chiều dài 10x04cm là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Ông NVL yêu cầu TXT bồi thƣờng thiệt hại trị giá xe mô tô nhãn hiệu: Honda, biển số: 36B2-416.84 với số tiền là 9.500.000 đồng nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thƣờng số tiền trên cho ông L.
Đối với đối tƣợng tên T1 cùng tham gia thực hiện tội phạm và đối tƣợng tiêu thụ xe do bị cáo chiếm đoạt. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhƣng chƣa xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ nên sẽ tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điều 47; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ 106, Điều 136, điểm c và điểm d khoản 2 Điều 290, Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo NXT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo NXT 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại hình lục giác dài 06cm, một đầu đƣợc mài dẹp; 01 ống kim loại hình chữ L, chiều dài 10x04cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/01/2023)
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo NXT có trách nhiệm bồi thƣờng cho ông Ngô Văn Loan số tiền 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng)
4. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo NXT phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự và 475.000 đồng (Bốn trăm bảy mƣơi lăm nghìn đồng) án phí dân sự.
Bị cáo, bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - Bị cáo; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhâm |