vanban.org

Bản án 32/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 07/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn B, Lê Quốc T, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lƣơng Mạnh H, Lê Văn Tr, Đỗ Hồng Đ, Hà Mạnh T, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn B 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 21/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Ba- CĐB - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn B, Lê Quốc T, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lƣơng Mạnh H, Lê Văn Tr, Đỗ Hồng Đ, Hà Mạnh T, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 32/2023/HS-ST
Ngày: 07/4/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: bà Đỗ Thị Thanh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Quốc Hƣng

bà Lê Thanh Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lâm, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Bùi Tuấn Ninh, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/Bùi Văn B (tên gọi khác: không); sinh ngày 10/5/1993, tại: Móng Cái, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu Tr, phường Tr, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn T và bà Đỗ Thị S; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/11/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

2/Lê Quốc T (tên gọi khác: không); sinh ngày 14/3/1992, tại: Cẩm Phả, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu Tr, phường Tr, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Quốc T và bà Bùi Thị M; vợ: Nguyễn Thị Kim O; con: có 01 con, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: chưa; bị tạm giữ ngày 21/11/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

3/Lƣơng Mạnh H (tên gọi khác: không); sinh ngày 28/3/2000, tại: Cẩm Phả, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu Tr, phường Tr, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Tiến C và bà Vũ Thị Th; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/11/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

4/Lê Văn Tr (tên gọi khác: không); sinh ngày 04/11/1995, tại: Móng Cái, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu Tr, phường Tr, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị M; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/11/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

5/Đỗ Hồng Đ (tên gọi khác: không); sinh ngày 18/6/1995, tại: Móng Cái, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu Tr, phường Tr, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Ngọc Kh và bà Bùi thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/11/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

6/Hà Mạnh T (tên gọi khác: không); sinh ngày 02/7/1995, tại: Móng Cái, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu Tr, phường Tr, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Quý Ch và bà Bùi Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 23/11/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người làm chứng: anh Bùi Duy Kh. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Đỗ Văn T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19/11/2022, Lương Mạnh H, Lê Văn Tr đến sân phía sau nhà của anh Bùi Duy Kh ở khu Tr, phường Tr, thành phố M ngồi chơi. Tại đây, H và Tr đã bàn nhau mua ma túy cần sa về cùng sử dụng. Cùng lúc này, Bùi Văn B nhắn tin cho H hỏi có mua ma túy cần sa không. H đồng ý mua và bảo Tr góp 100.000đ (một trăm nghìn đồng), rồi H nhắn tin cho Đỗ Hồng Đ rủ góp 100.000đ (một trăm nghìn đồng) mua ma túy cần sa để cùng sử dụng, Đ đồng ý. Sau khi Tr và Đ chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của H theo như thoả thuận, H chuyển số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) vào tài khoản ngân hàng của B để mua ma túy. Nhận được tiền do H chuyển, thì B tiếp tục nhắn tin cho Hà Mạnh T để trả nợ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng T nói B lấy số tiền đó mua ma túy cần sa cho T để trừ nợ. Khoảng 20 giờ cùng ngày, B nhắn tin cho Lê Quốc T hỏi mua 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) ma túy cần sa, mục đích để bán lại cho H và T. T đồng ý bán và B chuyển khoản 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền mua ma tuý cho T.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, T nhắn tin cho B đến nhà T ở khu Tr, phường Tr, thành phố M để nhận ma túy. B bảo Hà Mạnh T đến nhà Toàn nhận giúp ma túy. Sau khi nhận được ma túy T quay lại nhà B, chia gói ma túy vừa nhận thành 02 phần, một phần tương đương 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đưa cho B, phần còn lại tương đương 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) (T đã đặt mua của B) gói vào mảnh giấy ăn, cất giấu vào trong túi quần T đang mặc, rồi cả hai đi đến nhà anh Bùi Duy Kh. Khi đến nhà anh Kh, thì gặp H, Tr, Đ đang ngồi tại bàn uống nước trong sân. B lấy túi ma túy cần sa đặt lên bàn. Biết đó là ma tuý cần sa do góp tiền mua nên Tr lấy dao lam có tại bàn uống nước rạch mép túi nilon, rồi lấy một ít cần sa cho vào nõ chiếc điếu cày có sẵn tại bàn uống nước và châm lửa hút. Sau đó, H và Đ lấy cần sa cho vào nõ điếu cày hút hết túi cần sa. Lúc này, T cũng có nhu cầu sử dụng ma tuý cần sa nên lấy gói cần sa giấu trong túi quần ra để lên mặt bàn, rồi lấy một ít cần sa cho vào nõ chiếc điếu cày hút. Sau khi hút xong, T mời anh Kh sử dụng, nhưng anh Kh không hút. B lấy một ít cần sa trong gói cần sa T để trên mặt bàn rồi sử dụng. Ngay lúc này Tổ công tác của Công an thành phố M đến kiểm tra hành chính, đã phát hiện thu giữ các vật chứng gồm:

Tại bàn uống nước: 01 (một) miếng giấy vệ sinh màu trắng bên trong chứa thực vật khô; 01 dao lam hai lưỡi; 03 (ba) chiếc bật lửa màu.

Tại vị trí dưới gầm bàn uống nước: 01 (một) vỏ túi nilon; 01 (một) chiếc điếu cày vỏ bọc bằng Inox, đường kính 03cm, dài 50cm.

Ngoài ra, cơ quan Công an tạm giữ của Bùi Văn B 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0395.098.988; của Lê Văn Tr 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0333.477.443; Hà Mạnh T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, gắn sim số 0368.681.233; Lê Quốc Toàn 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, gắn sim số 0988.928.992; Đỗ Hồng Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0395.883.000; Lương Mạnh H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0845.620.189.

Ngày 20/11/2022, Công an thành phố Móng Cái triệu tập T lên làm việc và ngày 21/11/2022 tiến hành tạm giữ đối với T và T giao nộp số tiền bán ma tuý cho B 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) cùng 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, gắn sim số 0988.928.992. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Bùi Văn B, Đỗ Hồng Đ, Lê Văn Tr và Lương Mạnh H. Ngày 23/11/2022, tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hà Mạnh T.

Tại bản Kết luận giám định số 1895/KL-KTHS ngày 28/11/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật kí hiệu M gửi giám định là ma túy, loại: Cần sa, khối lượng 0,281g (không phẩy hai tám một gam).

Tại bản Kết luận giám định số 11/KL-KTHS (MT) ngày 26/11/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: tìm thấy chất 11-nor-delta9-tetrahydrocannbinol-9-carboxylic có trong 05 (năm) mẫu nước tiểu ghi tên Bùi Duy Kh, Lương Mạnh H, Đỗ Hồng Đ, Lê Văn Tr và Lê Quốc T gửi giám định.

Tìm thấy chất ma túy MDMA, Ketamine và chất 11-nor-deltage tetrahydrocannbinol-9-carboxylic có trong 02 (hai) mẫu nước tiểu ghi tên Bùi Văn Ba, Hà Mạnh Tường gửi giám định.

(11-nor-delta9-tetrahydrocannbinol-9-carboxylic là sản phẩm chuyển hóa được tìm thấy khi con người sử dụng chất ma túy cần sa).

Ngoài ra, T khai nguồn gốc ma tuý cần sa bán cho B là do T mua hạt cần sa của một người không quen biết trên mạng xã hội, đem về trồng rồi phơi khô và đóng gói đem bán.

Quá trình điều tra các bị cáo Bùi Văn B, Lê Quốc T, Lương Mạnh H, Lê Văn Tr, Đỗ Hồng Đ, Hà Mạnh T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Người làm chứng anh Bùi Duy Kh trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện: vào khoảng 19 giờ ngày 19/11/2022 Tr và H vào nhà bố anh Kh để hút thuốc lào. Sau đó, anh Kh về nhà lái xe chở khách vào trung tâm thành phố M đến khoảng 21 giờ 30 cùng ngày anh Kh về nhà phía sau, thấy Tr và H vẫn ngồi ở bàn uống nước ngoài sân. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì có thêm B, Đ, T tất cả đều là những người cùng xóm, cùng khu ngồi uống nước. Anh Khánh ngồi vào bàn cùng mọi người thì thấy có một ít thuốc sợi trên bàn đựng trong gói giấy vệ sinh màu trắng và thấy Tường cho một ít thuốc vào nõ điếu cày mời anh Kh sử dụng. Lúc này anh Kh mới biết đó là ma tuý cần sa nên không sử dụng. Ngay sau đó thì lực lượng Công an vào kiểm tra phát hiện có ma tuý cần sa trên bàn. Quá trình kiểm tra hành chính lực lượng Công an đã thu giữ 01 (một) điếu cày, 03 (ba) bật lửa màu đỏ, 01 (một) dao lam và 01 (một) miếng giấy màu trắng đựng ma túy cần sa. Sau đó lực lượng Công an đã đưa Ba, Hà, Tr, Đ, T về trụ sở để làm việc.

Người chứng kiến anh Đỗ Văn T trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện: vào khoảng 23 giờ ngày 19/11/2022, trong khi anh T đang ngủ ở nhà thì lực lượng Công an đến nhà mời anh chứng kiến việc kiểm tra nhà của Bùi Duy Kh. Khi anh tới nơi thấy trong sân nhà của Kh có anh Kh, Lương Mạnh H, Đỗ Hồng Đ, Lê Văn Tr, Bùi Văn B và Hà Mạnh T. Quá trình kiểm tra lực lượng Công an phát hiện tại mặt bàn uống nước kê trong sân nhà của Khánh có 01 (một) mẩu giấy vệ sinh màu trắng, bên trong giấy vệ sinh có chứa một ít thực vật khô nghi là ma tuý. Khi được lực lượng Công an hỏi về số thực vật khô trên thì mọi người khai nhận đó là ma tuý cần sa mà T và B vừa bỏ ra để sử dụng. Sau đó, lực lượng Công an lập biên bản sự việc và thu giữ số thực vật khô trên và một số tang vật liên quan về để điều tra.

Bản cáo trạng số: 31/CT - VKSMC ngày 17/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Bùi Văn B về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Quốc T về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lương Mạnh H, Đỗ Hồng Đ, Lê Văn Tr về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hà Mạnh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự

Tại phiên toà: các bị cáo khai lại toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và quá trình điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị với Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn B từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08(tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 21/11/2022.

Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Quốc T từ 03 (ba) năm đến 03(ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 21/11/2022.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lương Mạnh H từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 21/11/2022.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn Tr từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 21/11/2022.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Hồng Đ từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 21/11/2022.

Áp dụng: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Mạnh T từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 23/11/2022.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

- Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

+ Tịch thu tiêu hủy số ma tuý hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong, 01 chiếc điếu cày vỏ bọc bằng Inox, đường kính 3cm, chiều dài 50cm; 01 miếng giấy vệ sinh màu trắng; 01 dao lam hai lưỡi; 03 chiếc bật lửa; 01 vỏ túi nilon.

+ Tịch thu phát mại nộp ngân sách đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh - đen, kèm sim (thu giữ của Bùi Văn B); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng - đen kèm sim (thu giữ của Đỗ Hồng Đ); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng hồng kèm sim (thu giữ của Hà Mạnh T); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen kèm sim (thu giữ của Lương Mạnh H); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi - sám kèm sim (thu giữ của Lê Văn Tr); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng kèm sim (thu giữ của Lê Quốc T) và số tiền 500.000 đồng (đang được gửi tại kho bạc nhà nước thành phố Móng Cái).

Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội. Đánh giá nội dung Biên bản kiểm tra và thu giữ vật chứng ngày 19/11/2022; Biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú ngày 21/11/2022; các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; người làm chứng; người chứng kiến; trên cơ sở kết luận giám định số 1895/KL-KTHS ngày 28/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và kết luận giám định số 11/KL-KTHS (MT) ngày 26/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 19 giờ ngày 19/11/2022, tại khu Tr, phường Tr, thành phố M, Lê Văn Tr và Đỗ Hồng Đ mỗi người góp 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đưa cho Lương Mạnh H mua ma tuý về để cả 3 (ba) cùng sử dụng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, tại khu Tr, phường Tr, thành phố M, Lê Quốc T có hành vi bán cho Bùi Văn B 01 (một) túi ma túy cần sa với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua, B bán lại một phần cần sa cho Lương Mạnh H với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), phần còn lại bán cho Hà Mạnh T với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Số ma tuý cần sa mua được Lương Mạnh H, Lê Văn Tr và Đỗ Hồng Đ tổ chức cho nhau sử dụng hết. Hà Mạnh T đã tự sử dụng và tổ chức cho Bùi Văn B sử dụng trái phép, thì bị phát hiện thu giữ 0,281g (không phẩy hai tám một gam) cần sa.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Lê Quốc T, bị cáo Bùi Văn B đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hành vi cùng nhau góp tiền mua ma túy sử dụng của Lê Văn Tr, Lương Mạnh H, Đỗ Hồng Đ đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hành vi cung cấp ma túy của bị cáo Hà Mạnh T cho Bùi Văn B sử dụng đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Như vậy, quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái là có căn cứ pháp lý.

Xét tính chất, mức độ của hành vi là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, an ninh xã hội ở địa phương. Đây còn là nguyên nhân gây các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng vì lợi nhuận và nhu cầu cá nhân nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.

Về vai trò; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung.

- Xét vai trò của các bị cáo:

Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”: các bị cáo B và T đều một mình thực hiện hành vi mua bán ma túy để kiếm lời nên B và T sẽ độc lập chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Ba đã thực hiện 02 lần bán ma túy nên phải chịu tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”: các bị cáo H, Tr, Đ khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc thống nhất, cấu kết chặt chẽ với nhau từ trước mà do nhất thời phạm tội nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo Tr là người khởi xướng nhưng bị cáo H là người chủ động nhắn cho bị cáo Đ cùng góp tiền mua ma túy sử dụng và chuyển khoản cho bị cáo Ba để mua ma túy. Như vậy, bị cáo H và bị cáo Tr có vai trò ngang nhau. Bị cáo Đ chỉ góp tiền mua ma túy cùng sử dụng nên có vai trò thấp hơn bị cáo Trường và H. Đối với bị cáo T tuy không cùng bị cáo H, Tr, Đ bàn bạc việc mua ma túy về cùng sử dụng nhưng bị cáo T lại cung cấp ma túy cho bị cáo B sử dụng nên hành vi của bị cáo T chịu trách nhiệm độc lập tương ứng với mức độ hành vi phạm tội của mình.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Lê Văn Trường trong quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương. Bên cạnh đó bị cáo Trường tích cực tham gia công tác phòng chống tội phạm tại địa phương, nhiều lần cung cấp thông tin cho Công an góp phần vào công tác đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. Bị cáo Trường có ông nội là người có công với cánh mạng (giấy chứng nhận huy chương, huân chương kháng chiến). Nên bị cáo Trường được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Hà Mạnh T lần đầu phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình sinh sống tại địa phương trước khi phạm tội, bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, vì bố bị cáo bị bệnh hiểm nghèo, mẹ bị cáo bị mất sức lao động, ngoài ra bị cáo Tường có ông nội là người có công với Cách mạng, được tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Đ là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội nên áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo Đăng được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo mình cho tốt, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Trong quá trình điều tra và trong Cáo trạng, bị cáo T được áp dụng tình tiết đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, ngày 20/11/2022 khi bị cơ quan Công an triệu tập đến làm việc, nhưng bị cáo Toàn không thừa nhận đã bán ma túy cho bị cáo Ba, đến ngày 21/11/2022 bị cáo mới thừa nhận có bán ma túy cho bị cáo Ba. Do đó, bị cáo Toàn không được áp dụng tình tiết đầu thú.

- Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251, khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, bên trong lắp 01 sim thu giữ của Lê Quốc T; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh đen, bên trong lắp 01 sim thu giữ của Bùi Văn B; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng hồng, thu giữ của Hà Mạnh T; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, bên trong lắp 01 sim, thu giữ của Lương Mạnh H; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu ghi xám, bên trong lắp 01 sim, thu giữ của Lê Văn Tr; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng đen, bên trong lắp 01 sim thu giữ của Đỗ Hồng Đ là phương tiện các bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy và số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) bị cáo T có được từ việc bán ma túy chọ bị cáo B là khoản thu lời bất chính, nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Truy thu số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) của bị cáo B là tiền B nợ bị cáo T trước đó và đã dùng ma túy để trừ nợ vào số tiền trên.

- 0,21 gam (không phẩy hai mốt gam) ma túy, loại cần sa, được hoàn lại sau giám định kèm theo Kết luận giám định số 1895/KL-KTHS. Mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 1895 ngày 28 tháng 11 năm 2022 được niêm phong theo đúng quy định, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

- 01 (một) chiếc điếu cày vỏ bọc bằng Inox, đường kính 3cm, chiều dài 50cm; 01 (một) miếng giấy vệ sinh màu trắng; 01 (một) con dao lam 2 lưỡi; 03 chiếc bật lửa màu đỏ không nhãn mác; 01 túi nilon không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: các bị cáo quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với Lê Quốc T, Bùi Văn B có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 19/11/2022, Bùi Duy Kh có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 17/11/2022, Công an thành phố Móng Cái đã xử phạt vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn B, Lê Quốc T, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lƣơng Mạnh H, Lê Văn Tr, Đỗ Hồng Đ, Hà Mạnh T, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn B 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 21/11/2022.

Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Quốc T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 21/11/2022.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lương Mạnh H 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 21/11/2022.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn Tr 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 21/11/2022

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Hồng Đ 05 (năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 21/11/2022.

Áp dụng: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Mạnh T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 23/11/2022.

2. Về vật chứng và xử lý vật chứng:

Áp dụng: khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh - đen, kèm sim (thu giữ của Bùi Văn B); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng - đen kèm sim (thu giữ của Đỗ Hồng Đ); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng hồng kèm sim (thu giữ của Hà Mạnh T); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen kèm sim (thu giữ của Lương Mạnh H); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi - sám kèm sim (thu giữ của Lê Văn Tr); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng kèm sim (thu giữ của Lê Quốc T) và số tiền 500.000 đồng bị cáo Toàn có được từ việc bán ma túy.

- Truy thu của bị cáo B số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy: 0,21 gam (không phẩy hai mốt gam) ma túy, loại cần sa, được hoàn lại sau giám định kèm theo Kết luận giám định số 1895/KL-KTHS. Mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số 1895 ngày 28 tháng 11 năm 2022 được niêm phong theo đúng quy định, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

- 01 (một) chiếc điếu cày vỏ bọc bằng Inox, đường kính 3cm, chiều dài 50cm; 01 (một) miếng giấy vệ sinh màu trắng; 01 (một) con dao lam 2 lưỡi; 03 (ba) chiếc bật lửa màu đỏ không nhãn mác; 01 (một) túi nilon không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

(Vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 66/2023/THA, ngày 20/3/2023 và Biên bản bàn giao tiếp nhận tài sản để bảo quản số 10/BBBQ- CSĐT ngày 21/02/2023 giữa Công an thành phố Móng Cái và Kho bạc Nhà nước Móng Cái).

3. Về án phí:

Áp dụng: khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Bùi Văn B, Lê Quốc T, Lê Văn Tr, Lương Mạnh H, Đỗ Hồng Đ, Hà Mạnh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng: khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt các bị cáo, báo cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Quảng Ninh;

- VKSND thành phố Móng Cái;

- Công an Tp Móng Cái;

- Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Móng Cái;

- Các bị cáo;

Đỗ Thị Thanh Huệ

- Lưu: HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thanh Huệ

Cỡ chữ