vanban.org

Bản án 32/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Nhật H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Nhật H 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/9/2022. Trả lại cho bị cáo Huỳnh Nhật H: 01 (một) áo thun ngắn tay màu đỏ và 01 (một) chiếc quần jeans dài màu đen được niêm phong trong 01 túi nilon màu trắng bên ngoài có chữ ký… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Nhật H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HS-ST
Ngày: 26-5-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Nam Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Xuân Thảo;

2. Bà Nguyễn Thị Xuyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghiệp – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

HUỲNH NHẬT H Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26/11/1996; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Đường T, Phường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề Nghiệp: Sửa xe; Học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Huỳnh Văn A và bà Trịnh Thị M; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Ngày 29/12/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 171/HSST, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 03/6/2021.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/9/2022.

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Chị Nguyễn Vũ Hoài T, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Căn hộ C, nhà C, lô CD, chung cư K, phường A, Thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn T; Địa chỉ: khu phố B, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 ngày 09/9/2022, bị cáo Huỳnh Nhật H điều khiển xe mô tô biển số 59G1 – 322.40 đi trên đường Q, phường S, Quận 3 thì thấy bị hại chị Nguyễn Vũ Hoài T đang đeo túi xách trên vai bên phải (bên trong có 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Air M1 màu vàng; 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen, 128GB; 01 ví cá nhân màu hồng bên trong có giấy tờ tùy thân; 102.000 đồng), đứng đợi bạn trước đường Q, phường S, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Do bị cáo nảy sinh ý định cướp giật nên điều khiển xe áp sát, dùng tay trái giật túi xách của chị T nhưng không giật được rồi liền tăng ga bỏ chạy. Lúc này, anh Lê Hoàng T chứng kiến sự việc tri hô và điều khiển xe máy đuổi theo liên tục đến giao lộ H – Công xã P, phường N thì bắt giữ được bị cáo H. Sau đó, anh T bàn giao bị cáo cho Công an phường N, Quận M. Công an phường N Quận M lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3 xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3, bị cáo Huỳnh Nhật H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 67/KLĐG-HĐĐGTS ngày 15/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: giá trị tài sản theo giá thị trường vào thời điểm tháng 9/2022: 01(một) túi xách vải màu đen có giá trị 300.000 đồng, 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Apple, loại Macbook Air M1 ram 16GB-251GB số seri FVFFH1G6Q6M0 màu vàng có giá 23.000.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động Iphone 07 plus màu đen (tình trạng đã qua sử dụng mua vào tháng 11/2017) có giá 4.000.000 đồng; 01 (một) ví tiền màu hồng không nhãn hiệu (tình trạng đã qua sử dụng) có giá 300.000 đồng; tổng cộng giá trị: 27.600.000 đồng (hai mươi bảy triệu sáu trăm ngàn đồng).

Tại bản cáo trạng số 41/CT/VKS-Q3 ngày 25/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Huỳnh Nhật H về tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vật chứng của vụ án:

- 01 (một) điện thoại hiệu Nokia màu đen, số imei 1: 355117079164045, số imei 2: 355117079164052.

- 01 (một) áo thun ngắn tay màu đỏ và 01 (một) chiếc quần jeans dài màu đen là trang phục bị cáo H mặc khi thực hiện hành vi cướp giật vào ngày 09/9/2022 được niêm phong trong 01 túi nilon màu trắng bên ngoài có chữ ký giáp lai của bị cáo Huỳnh Nhật H và dấu mộc của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3.

- 01 (một) xe máy hiệu Honda Super Cub 90 màu vàng, biển số 59G1 – 322.40. Xe do ông Lê Văn T (địa chỉ khu phố B, phường Đ, Quận M) đứng tên chủ sở hữu, ông T đã bán xe cho một người đàn ông với giá 4.000.000 đồng nhưng không rõ địa chỉ lai lịch và không nhớ rõ thời gian bán. Bị cáo H mượn xe của người tên M (không rõ lai lịch) sử dụng. Cơ quan điều tra tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả.

- 01 (một) đĩa DVD bên trong có chứa dữ liệu camera ghi nhận vụ việc cướp giật tài sản xảy ra ngày 09/9/2022 được niêm phong trong phong bì màu trắng bên ngoài được ký giáp lai của Phan Ngọc T và dấu mộc của Công an phường S, Quận 3 đã đưa vào hồ sơ vụ án.

Về yêu cầu dân sự: Bị hại – chị Nguyễn Vũ Hoài T không yêu cầu bồi thường gì.

Tại phiên toà hôm nay:

Bị cáo Huỳnh Nhật H có lời khai phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải xin giảm nhẹ hình phạt để có thể về làm lại cuộc đời.

Bị hại - chị Nguyễn Vũ Hoài T không mặt tại phiên và không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn T vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Nhật H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị xử phạt bị cáo H từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ Quận 8ố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ Quận 8 tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Khoảng 23 giờ 30 ngày 09/9/2022, tại Đường Q, phường S, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, bị hại chị Nguyễn Vũ Hoài T đang đeo túi xách màu đen (bên trong có 01 máy tính xách tay hiệu Macbook Air M1 màu vàng; 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen, 128GB; 01 ví cá nhân màu hồng bên trong có giấy tờ tuỳ thân; và số tiền 102.000 đồng) thì bị cáo Huỳnh Nhật H điều khiển xe mô tô biển số 59G1 – 322.40 áp sát và dùng tay trái giật túi xách của chị T nhưng không giật được rồi liền tăng ga bỏ chạy. Lúc này, anh Lê Hoàng T chứng kiến sự việc tri hô và điều khiển xe máy đuổi theo liên tục đến giao lộ H– Công xã P, phường thì bắt giữ được bị cáo. Sau đó, anh T bàn giao bị cáo cho Công an phường N, Quận M. Sau đó Công an phường N, Quận M lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3 xử lý.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 67/KL-HĐĐGTS ngày 15/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: giá trị tài sản theo giá thị trường vào thời điểm tháng 9/2022: 01(một) túi xách vải màu đen có giá trị 300.000 đồng, 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Apple, loại Macbook Air M1 ram 16GB-251GB số seri FVFFH1G6Q6M0 màu vàng có giá 23.000.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động Iphone 07 plus màu đen (tình trạng đã qua sử dụng mua vào tháng 11/2017) có giá 4.000.000 đồng; 01 (một) ví tiền màu hồng không nhãn hiệu (tình trạng đã qua sử dụng) có giá 300.000 đồng; tổng cộng giá trị: 27.600.000 đồng (hai mươi bảy triệu sáu trăm ngàn đồng).

Tại cơ quan điều tra, bị cáo H đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên có lỗi cố ý.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định bị cáo H đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét thấy trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa chiếm đoạt tài sản nên đây là trường hợp phạm tội chưa đạt. Do đó áp dụng Điều 15 và khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 trong việc quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo H bị Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 171/HSST ngày 29/12/2020 và chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/5/2021. Do đó lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị Nguyễn Vũ Hoài T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) áo thun ngắn tay màu đỏ và 01 (một) chiếc quần jeans dài màu đen trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 (một) điện thoại hiệu Nokia màu đen, số imei 1: 355117079164045, số imei 2: 355117079164052 là tài sản của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 (một) xe máy hiệu Honda Super Cub 90 màu vàng, biển số 59G1 – 322.40 do ông Lê Văn T (địa chỉ khu phố B, phường T, Quận H) đứng tên chủ sở hữu, ông T đã bán xe cho một người đàn ông với giá 4.000.000 đồng nhưng không rõ địa chỉ lai lịch và không nhớ rõ thời gian bán. Bị cáo H mượn xe của người tên M (không rõ lai lịch) sử dụng. Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả. Do đó giao Chi cục cho Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3 làm thủ tục thông báo để tìm và trả cho chủ sở hữu hợp pháp. Nếu quá thời hạn 06 (sáu) tháng kể từ ngày thông báo vẫn không có chủ sở hữu hợp pháp đến xin nhận lại thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 (một) đĩa DVD bên trong có chứa dữ liệu camera ghi nhận vụ việc cướp giật tài sản xảy ra ngày 09/9/2022 được niêm phong trong phong bì màu trắng bên ngoài được ký giáp lai của Phan Ngọc T và dấu mộc của Công an phường S, Quận 3 đã đưa vào hồ sơ vụ án

Về án phí:

Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 15, khoản 3 Điều 57, điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Nhật H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Nhật H 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/9/2022.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Nhật H: 01 (một) áo thun ngắn tay màu đỏ và 01 (một) chiếc quần jeans dài màu đen được niêm phong trong 01 túi nilon màu trắng bên ngoài có chữ ký giáp lai của Huỳnh Nhật H và dấu mộc của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 3 và 01 (một) điện thoại hiệu Nokia màu đen, số IMEI 1: 355117079164045, số IMEI 2: 355117079164052.

Giao Chi cục cho Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3 làm thủ tục thông báo để tìm và trả cho chủ sở hữu hợp pháp. Nếu quá thời hạn 06 (sáu) tháng kể từ ngày thông báo vẫn không có chủ sở hữu hợp pháp đến xin nhận lại thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) xe máy hiệu Honda Super Cub 90 màu vàng, biển số 59G1 – 322.40.

(Quyết định chuyển vật chứng số 36/QĐ-VKS-Q3 ngày 26/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3)

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Nhật H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Áp dụng Điều 331, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ