- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? I. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HS-ST Ngày 15-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà
Bà Nguyễn Thị Hằng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyên Lương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến gồm 2 điểm cầu:
- Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (344A Lê Thanh Nghị, phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng)
- Điểm cầu thành phần tại trụ sở Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng (xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng)
Để xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN TH, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh năm 1968 tại thành phố Đà Nẵng.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Không có.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 4/12.
Nghề nghiệp: Không.
Con ông: Nguyễn Văn Ch (đã chết) và bà Phạm Thị Ch1 (đã chết). Bị cáo có vợ là bà Lê Thị H (sinh năm 1970) và 3 người con (con lớn nhất 37 tuổi, con nhỏ nhất 28 tuổi)
Tiền án:
- Bản án số 156 ngày 28/10/1993 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo khoản 1 Điều 155 BLHS 1985 Chưa thi hành án phí hình sự sơ thẩm nên chưa được xóa án tích.
- Bản án số 21 ngày 08/02/1996 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xử phạt 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự nơi công cộng” theo điểm a khoản 2 Điều 198 BLHS năm 1985, đã “Tái phạm”, chưa thi hành án phí hình sự sơ thẩm nên chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án số 76/HSST ngày 27/10/1999 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 2 Điều 109 BLHS 1985, đã xóa án tích.
- Bản án số 71/HSST ngày 29/11/2001 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” điểm c khoản 2 Điều 138 BLHS 1999, đã xóa án tích.
- Ngày 21/5/2015, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 30/10/2022 có mặt tại điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng.
- Người bị hại: Chị Phạm Thị Huyền Tr, sinh năm 1988; Địa chỉ: 06 đường P, phường V, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
Tham gia tại điểm cầu trung tâm gồm có: Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát và Thư ký phiên tòa.
Tham gia tại điểm cầu thành phần gồm có:
- Bị cáo Nguyễn Văn Th;
- Cán bộ, chiến sĩ của Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng: Ông Ngô Quốc Hưng chức vụ: Cán bộ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28/10/2022, Phạm Thị Huyền Tr đến cửa hàng bán hoa tại số 258 đường đường H, phường C, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng để mua đồ. Chị Tr có treo một túi ni lông đồ trên xe mô tô, dựng trước cửa hàng. Lúc này, Nguyễn Văn Th đi bộ ngang qua nhìn thấy nên đã lén lút trộm cắp chiếc túi, bên trong có: 02 chiếc váy màu đen; 01 ví màu cam đỏ, hình chữ nhật; 502.000 đồng; 01 tờ tiền 02 Đô la Mỹ (USD); 02 chiếc nhẫn hình con cóc, bằng kim loại màu vàng, có đính hạt chất màu đỏ và màu trắng và một số giấy tờ tùy thân.
Th đã tiêu xài hết số tiền 502.000 đồng và 01 tờ tiền 02 Đô la Mỹ. Riêng 01 chiếc nhẫn hình con cóc, có hạt màu đỏ, Th bán cho người phụ nữ (chưa xác định được lai lịch) tại bờ hồ đường N, phường G, thành phố Đà Nẵng với giá 4.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân và còn lại 3.885.000 đồng. 01 chiếc nhẫn hình con cóc, hạt màu trắng Th cất trong túi quần đang mặc.
Lúc 11 giờ 50 phút ngày 30/10/2022, Công an phường C, quận Hải Châu kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Văn Th thì Th khai nhận hành vi trộm cắp như trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 chiếc nhẫn đường kính khoảng 1,3cm, mặt nhẫn hình con cóc, chất liệu kim loại màu vàng ánh kim.
- 3.885.000 đồng.
- 01 đĩa CD màu trắng, có lưu giữ 01 đoạn video chứa dữ liệu liên quan đến vụ trộm cắp tài sản tại trước nhà số 258 đường H, thành phố Đà Nẵng vào ngày 28/10/2022.
Theo Kết luận giám định 1648/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: 01 chiếc nhẫn bằng kim loại, màu vàng, mặt nhẫn có hình dạng giống con cóc (hai mắt con cóc có đính hạt chất màu đỏ, miệng ngậm hạt chất màu đỏ, trên thân có đính các hạt chất màu trắng) gửi giám định có kim loại vàng (Au), đồng (Cu) và bạc (Ag); hàm lượng từng kim loại như sau: Vàng là 75%; đồng là 14,1%; bạc là 10,9%; tổng khối lượng mẫu là 5,40 gam (tính cả khối lượng hạt chất màu đỏ và các hạt chất màu trắng.
Theo Kết luận định giá tài sản số 143/KL-HĐĐGTS ngày 03/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS, UBND quận Hải Châu, kết luận: 02 váy màu đen, trị giá: 2.798.000 đồng; 01 ví da màu cam đỏ, kích thước khoảng 20cm X 5cm, trị giá: 27.000 đồng.
Theo Kết luận định giá tài sản số 155/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS, UBND quận Hải Châu, kết luận:
- 01 chiếc nhẫn, bằng kim loại màu vàng, có đính hình con cóc, hai mắt con cóc có đính hạt chất màu đỏ, dưới miệng con cóc có ngậm hạt chất màu đỏ, bên trên thân con cóc đính hạt chất màu trắng, trị giá: 3.516.000 đồng.
- 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, có đính hình con cóc, trị giá: 6.040.640 đồng.
Theo Công văn số 1134/ĐAN-TH&KSNB ngày 09/11/2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Chi nhánh Đà Nẵng về việc cung cấp thông tin tỷ giá Đồng Việt Nam (VNĐ) với Đô la Mỹ (USD) áp dụng cho ngày 28/10/2022 là 01 USD = 23.693 VNĐ. Vậy 02 USD = 47.386 đồng.
Vậy, tổng trị giá tài sản Th chiếm đoạt là: 12.961.386 đồng.
Xử lý vật chứng:
- Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã trả lại cho bị hại Phạm Thị Huyền Tr: 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng như nêu trên; 3.885.000 đồng.
- Lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD màu trắng, bên trong có chứa dữ liệu điện tử về vụ trộm cắp tài sản tại trước nhà số 258 đường H, thành phố Đà Nẵng vào ngày 28/10/2022.
Về dân sự: Bị hại Phạm Thị Huyền Tr đã nhận lại các tài sản như trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Th đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên, lời khai của bị can phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th mức án từ 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng đến 3 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Thị Huyền Tr đã nhận lại các tài sản như trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết
Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28/10/2022, tại trước nhà số 258 đường H, phường C, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Văn Th đã có hành vi lén lút trộm cắp: 502.000 đồng, 01 tờ tiền 02 Đô la Mỹ, 02 chiếc váy, 01 ví da, 02 chiếc nhẫn của chị Phạm Thị Huyền Tr. Tổng trị giá tài sản Th chiếm đoạt là 12.961.386 đồng.
Bản án số 21 ngày 08/02/1996 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xử phạt 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự nơi công cộng” theo điểm a khoản 2 Điều 198 BLHS năm 1985, đã “Tái phạm”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên thực hiện hành vi lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người khác đã dùng thủ đoạn lén lút chiếm đoạt tài sản làm nguồn thu nhập chính cho bản thân với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 12.961.386đ (Mười hai triệu chín trăm sáu mươi mốt ngàn ba trăm tám mươi sáu đồng) ngoài ra bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt nên cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 18/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Th là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người khác lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để chiếm đoạt. Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành, đang trong độ tuổi lao động và đầy đủ sức khỏe để lao động thu nhập được những đồng lương chân chính nhưng vì muốn có nhiều tiền để tiêu xài mà không cần bỏ sức lao động nên đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếm đoạt tài sản để phục vụ cho nhu cầu của bản thân. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, từng 04 lần đi chấp hành án nhưng bị cáo vẫn không thay đổi bản thân và tiếp tục đi vào con đường phạm tội nên Hội đồng xét xử thấy cần phải quyết định một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm mục đích răn đe và giáo dục.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Thị Huyền Tr không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã trả lại cho bị hại Phạm Thị Huyền Tr: 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng và 3.885.000 đồng là đúng theo quy định pháp luật.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ.
Xét các đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
I. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 3 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 30 tháng 10 năm 2022.
II. Về xử lý vật chứng:
Lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD màu trắng, bên trong có chứa dữ liệu điện tử về vụ trộm cắp tài sản tại trước nhà số 258 đường H, thành phố Đà Nẵng vào ngày 28/10/2022
III. Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Văn Th phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
V. Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu; - Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng; - Công an quận Hải Châu; - Chi cục THADS quận Hải Châu; - Cơ quan THAHS quận Hải Châu; - Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |