vanban.org

Bản án 32/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 17/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Quốc H 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 17/11/2022 đến ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc Hào - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 134 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HS-ST
Ngày: 17-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thành Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Lâm Sơn và ông Tạ Văn Thạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hưởng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Quốc H, sinh năm 1993 tại huyện T, tỉnh B; nơi cư trú: khối Ph, thị trấn Ph, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1965 và bà Phan Thị H, sinh năm 1968; vợ: Dương Thị L, sinh năm 1995 (đã ly hôn); con: 01 người, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/11/2022 cho đến ngày 15/03/2023, áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

Dương Tuấn K, sinh năm 1994 (có mặt);

Trú tại: thôn Ph, xã T, huyện T, tỉnh B.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Dương Thanh B, sinh năm 1959 (có mặt);

Trú tại: thôn Ph, xã T, huyện T, tỉnh B.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Quang S, sinh năm 1992 (vắng mặt);

Trú tại: khối Ph, thị trấn Ph, huyện T, tỉnh B.

2. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1997 (có mặt);

Trú tại: thôn K, xã B, huyện T, tỉnh B.

3. Nguyễn Ng, sinh năm 1949 (vắng mặt);

4. Trương Văn Th, sinh năm 1975 (có mặt);

Đồng trú tại: thôn Ph, xã T, huyện T, tỉnh B.

5. Trần Văn T, sinh năm 1965 (có mặt);

Trú tại: khối Ph, thị trấn Ph, huyện T, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 07/2022, Dương Tuấn K (SN: 1994) ở thôn Ph, xã T, huyện T, tỉnh B mượn tiền của Ngh (chưa rõ họ tên, địa chỉ) ở Gia Lai với số tiền 5.000.000đ, đến ngày 23/09/2022 Ngh gọi điện đòi nợ K nhưng K nói chưa có tiền trả. Khoảng 14h, ngày 24/9/2022, Trần Quốc H (SN:1993) ở khối Ph, thị trấn Ph, huyện T rủ Nguyễn Văn Đ (SN: 1997) ở thôn K, xã B, huyện T, tỉnh B đến nhậu tại nhà H. Trong lúc nhậu, do có quan hệ quen biết nên H gọi điện cho Ngh nói chuyện, Ngh kể lại việc K nợ tiền không trả. H gọi điện cho K hỏi sao nợ tiền không trả, K nói tục nên H tức giận nảy sinh ý định đánh K. Lúc này, Nguyễn Quang S (SN: 1992) ở khối Ph, thị trấn Ph, huyện T, tỉnh B đi ngang qua, H rủ vào nhậu và nhờ S chở đến nhà K có việc, S đồng ý và đi về nhà mặc áo. H xuống nhà bếp lấy 01 con dao dài khoảng 43cm, giấu vào lưng quần, mục đích đánh K và hỏi Đ: Mầy có đi chơi không, nghĩ rằng H rủ đi chơi nên Đ đã đồng ý đi. Khoảng 16 giờ cùng ngày, S điều khiển xe mô tô quay lại nhà H chở Đ, H đến nhà K. Khi đi đến đoạn ngã ba đường vào nhà K, thấy K đang đi về nhà, H nói S đi theo xe K. Khi K vừa dừng xe lại trước cổng nhà, S điều khiển xe mô tô chở H và Đ dừng cách sau xe K khoảng 2m, H nhảy xuống xe đến đối diện K cách khoảng 01m, tay phải cầm dao chém một nhát từ trên xuống, K đưa tay lên đỡ nên bị chém trúng khuỷu tay trái, bị chém K quay lưng bỏ chạy, H chém tiếp một nhát từ phải qua trái trúng lưng trái. Kbỏ chạy, H cầm dao tiếp tục đuổi theo một đoạn khoảng 30-40 m để chém nhưng không đuổi kịp nên H cầm dao quay lại vị trí xe mô tô. S và Đ vẫn ngồi trên xe, thấy H quay lại, Sang chở Đ, H đi về. H nói S chở đến nhà quán gặp ông Dương Thanh B (SN: 1959) là cha của K để nói chuyện, thấy H và ông B nói lớn tiếng nên S và Đ can ngăn và chở H về, trên đường về đến cầu đồng Sim, H vứt con dao. Hậu quả, K bị thương được đưa đi điều trị từ ngày 26/9/2022 đến 30/9/2022 xuất viện, sau đó Hào đã giao nộp con dao cho cơ quan điều tra.

Kết luận giám định thương tích số: 283/2022/PY-TgT, ngày 06/10/2022 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Bình Định kết luận: Dương Tuấn K bị vết thương 1/3 dưới sau cánh tay trái (vùng khuỷu tay trái) đã phẩu thuật khâu vết thương, điều trị. Hiện vùng khuỷu tay trái vết thương để lại sẹo kích thước (7 x 3)cm, còn chỉ khâu; vận động khuỷu tay trái được, còn đau; Vết xây sát da vùng lưng đã điều trị. Hiện vùng lưng trái vết xây sát để lại sẹo kích thước (2.5 x 5)cm. Tổn hại 3% sức khỏe.

Vật chứng thu giữ: 01 con dao dài 43cm, cán bằng gỗ hình trụ tròn, đường kính lớn nhất 04cm, hai đầu bọc kim loại, lưỡi bằng kim loại dài 30cm, mũi bằng, một bên lưỡi sắc bén, bản lưỡi rộng dần về phía mũi dao, nơi rộng nhất là 07cm.

Về phần dân sự: Trong giai đoạn điều tra bị hại yêu cầu bị cáo H phải bồi thường số tiền 43.244.000đ, bị cáo chưa khắc phục bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 15/CT – VKSTS ngày 15/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn đã truy tố bị cáo Trần Quốc H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

* Về hình phạt: Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Quốc H mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

* Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và 590 của Bộ luật dân sự. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc H và bị hại anh Dương Tuấn K tự nguyện thỏa thuận thống nhất mức bồi thường thiệt hại về sức khoẻ với tổng số tiền là 18.581.000 đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thoả thuận này, buộc bị cáo Trần Quốc H có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bị hại Dương Tuấn K với tổng số tiền là 18.581.000 đồng nhưng được trừ số tiền bị cáo H đã bồi thường một phần trước tại phiên toà là 5.000.000đ. Bị cáo Trần Quốc H còn phải bồi thường tiếp số tiền là 13.581.000đ (Mười ba triệu năm trăm tám mươi mốt nghìn đồng).

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) con dao dài 43cm, có cán bằng gỗ hình trụ tròn đường kính lớn nhất là 04cm, hai đầu bọc kim loại; lưỡi bằng kim loại dài 30cm, mũi bằng, một bên lưỡi sắc bén, bản lưỡi rộng dần về phía mũi dao, nơi rộng nhất là 07cm. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/4/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Sơn và Công an huyện Tây Sơn).

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không có lời nói gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tây Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về giới hạn của việc xét xử:

Ngày 24/5/2023, Toà án nhân dân huyện Tây Sơn đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn để điều tra làm rõ: 1- Có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội, đối với hành vi của Nguyễn Quang S và Nguyễn Văn Đ trong vụ án do bị cáo H thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại Dương Tuấn K; 2- Có dấu hiệu bỏ lọt tội danh đe doạ giết người, đối với hành vi đe doạ giết người của Trần Quốc H.

Ngày 14/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn giữ nguyên Bản cáo trạng số 15/CT – VKSTS ngày 15/3/2023 đã truy tố bị cáo Trần Quốc H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Toà án để Toà án nhân dân huyện Tây Sơn đưa vụ án ra xét xử. Do đó, căn cứ vào Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định về giới hạn xét xử, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử bị cáo Trần Quốc H theo tội danh và Điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo H tại Bản cáo trạng số 15/CT – VKSTS ngày 15/3/2023.

Về tội danh và Điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện:

Khoảng 16 giờ, ngày 24/09/2022, tại thôn Ph, xã T, huyện T, tỉnh B, Trần Quốc H đã vô cớ dùng dao là hung khí nguy hiểm chém anh Dương Tuấn K ở thôn Ph, xã T, huyện T, tỉnh B gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 3%.

Căn cứ Kết luận giám định thương tích số: 283/2022/PY-TgT, ngày 06/10/2022 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Bình Định kết luận: Dương Tuấn K bị vết thương 1/3 dưới sau cánh tay trái (vùng khuỷu tay trái) đã phẩu thuật khâu vết thương, điều trị. Hiện vùng khuỷu tay trái vết thương để lại sẹo kích thước (7 x 3)cm, còn chỉ khâu; vận động khuỷu tay trái được, còn đau; Vết xây sát da vùng lưng đã điều trị. Hiện vùng lưng trái vết xây sát để lại sẹo kích thước (2.5 x 5)cm. Tổn hại 3% sức khỏe. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích” với 02 tình tiết định khung là “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” được quy định tại các điểm a, i Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn truy tố là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo Trần Quốc H là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật mà còn gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện tính chất côn đồ, xem thường sức khỏe, tính mạng của người khác, xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc của khung hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Trần Quốc H có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Quốc H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa, bị cáo đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000đ, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là nguy hiểm, phạm tội với tình tiết định khung là “Có tính chất côn đồ” được quy định tại các điểm i Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự nên thuộc những trường hợp không cho hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Do đó, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về phần trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc H và bị hại anh Dương Tuấn K tự nguyện thỏa thuận thống nhất mức bồi thường các khoản sau:

- Chi phí cấp cứu điều trị (có hóa đơn chứng từ hợp lệ): 181.000 đồng;

- Tiền xe cấp cứu, điều trị: 2.000.000 đồng;

- Công lao động bị mất của anh Dương Tuấn K là tài xế lái xe tải (tính 05 ngày nằm viện và nghỉ tại nhà 15 ngày phục hồi): 20 ngày x 500.000 đồng/ngày = 10.000.000 đồng;

- Thu nhập bị mất của người chăm sóc anh K khi nằm viện điều trị (từ ngày 26/9/2022 đến 30/9/2022): 05 ngày x 200.000 đồng/ngày = 1.000.000 đồng;

- Khoản tổn thất tinh thần: tính bằng 03 lần mức lương cơ sở x 1.800.000đ = 5.400.000 đồng;

Tổng cộng số tiền mà bị cáo Trần Quốc H phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho người bị hại Dương Tuấn K số tiền là 18.581.000 đồng. Tại phiên tòa giai đoạn tranh tụng, bị cáo Trần Quốc H đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, bồi thường trước ngay tại phiên toà cho anh K số tiền là 5.000.000đ. Do đó, buộc bị cáo H còn phải bồi thường tiếp cho anh K số tiền là 13.581.000đ (ngoài số tiền đã bồi thường trước tại phiên toà là 5.000.000đ).

Về xử lý lý vật chứng:

- 01 (Một) con dao dài 43cm, có cán bằng gỗ hình trụ tròn đường kính lớn nhất là 04cm, hai đầu bọc kim loại; lưỡi bằng kim loại dài 30cm, mũi bằng, một bên lưỡi sắc bén, bản lưỡi rộng dần về phía mũi dao, nơi rộng nhất là 07cm.

Đây là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với đề nghị về áp dụng hình phạt đối với bị cáo của Viện kiểm sát tại phiên tòa: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/5/2022 thì về hình phạt: Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Quốc H mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo là không phù hợp, vi phạm những trường hợp không cho hưởng án treo theo quy định của pháp luật do bị cáo H phạm tội với tình tiết định khung là “Có tính chất côn đồ” nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c, f, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Quốc H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 929.000đ (Chín trăm hai mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Quốc H 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 17/11/2022 đến ngày 15/03/2023.

3. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và 590 của Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Trần Quốc H có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bị hại Dương Tuấn Kiệt với tổng số tiền là 18.581.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm tám mươi mốt nghìn đồng) nhưng được trừ số tiền bị cáo H đã bồi thường trước tại phiên toà là 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Bị cáo Trần Quốc H còn phải bồi thường tiếp số tiền là 13.581.000đ (Mười ba triệu năm trăm tám mươi mốt nghìn đồng).

4. Về xử lý lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) con dao dài 43cm, có cán bằng gỗ hình trụ tròn đường kính lớn nhất là 04cm, hai đầu bọc kim loại; lưỡi bằng kim loại dài 30cm, mũi bằng, một bên lưỡi sắc bén, bản lưỡi rộng dần về phía mũi dao, nơi rộng nhất là 07cm. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/4/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Sơn và Công an huyện Tây Sơn).

5. Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c, f, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

5.1 Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Quốc H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

5.2 Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Quốc H phải chịu 929.000đ (Chín trăm hai mươi chín nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo:

Báo cho bị cáo và đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

7. Quyền và nghĩa vụ thi hành án:

7.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

7.2. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ