- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Văn T cùng đồng phạm tổ chức cho người khác xuất, nhập cảnh - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại…"
- Tòa quyết gì? 1. Xử phạt bị cáo Lâm Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2022.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 348 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HS-ST Ngày: 13-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Ngọc Thạch;
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Trọng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Đức – Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Lâm Văn T, sinh năm 1993 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Đông L, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn S và bà Trần Thị K; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định số 13/QĐ-XPHC ngày 07/10/2022 của Đồn Biên phòng Kà Tum-Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh phạt vi phạm hành chính bị cáo với số tiền 4.000.000 đồng về hành vi “Cư dân biên giới qua lại biên giới không đúng các quy định dành cho việc qua lại của cư dân biên giới”, nộp phạt xong cùng ngày, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; nhân thân: Ngày 07/4/2014 bị Công an xã Tân Hà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” tại Quyết định số 60/QĐ-XPVPHC, nộp phạt xong ngày 25/11/2014, đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2022 đến nay (có mặt).
2. Lâm Hoàng Gi (Lộc V), sinh năm 1991 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Đông T, xã Tân Đ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Hoàng V và bà Nguyễn Thị H; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 13/11/2021 của Công an xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính bị cáo với số tiền 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, chưa nộp phạt nên chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Tại Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 07/01/2022 của Công an xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính bị cáo với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, chưa nộp phạt nên chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; nhân thân: Ngày 09/11/2022, bị Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng tại Quyết định số 56/QĐ-TA ngày 09/11/2022; bị cáo bị bắt tạm giam thừ ngày 06/4/2023 đến nay (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ dân phố Ngọc L, phường Tiên Ph, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
2. Anh Trần Văn Q, sinh năm 1998; địa chỉ: Xóm Ng, xã Hà Ch, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sang Campuchia làm thuê, ngày 11/8/2022 anh S sử dụng tài khoản Messenger tên “Hoàng V S” liên lạc với T qua tài khoản “Sống Cần” để thuê T đón, đưa anh S và anh Q xuất cảnh trái phép sang Campuchia với số tiền là 800.000 đồng, thì T đồng ý. Sau đó, T rủ Gi tham gia và thống nhất cách thức liên lạc để thực hiện việc đón, đưa người xuất cảnh trái phép sang Campuchia như đã thoả thuận.
Đến khoảng 08 giờ ngày 23/8/2022, T sử dụng số điện 0984038274 gọi vào số 0847811406 của Gi, yêu cầu đến quán cà phê “Đắc Nguyên” thuộc ấp Đông Thành, xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để cùng đưa anh S, anh Q xuất cảnh sang Campuchia trái phép. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Gi điều khiển xe mô tô biển số 70K1-395.35 đến quán cà phê “Đắc Nguyên” chở anh Q, còn T điều khiển xe mô tô biển số 70K1-282.11 chở anh S từ quán cà phê “Đắc Nguyên” đến khu vực cột mốc số 92 thuộc ấp Đông Lợi, xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo đường mòn xuất cảnh trái phép sang địa phận Campuchia. Trên đường đi anh S trả trước cho T 200.000 đồng, T trả trước cho Gi 100.000 đồng để đổ xăng. Khi đưa anh S và anh Q xuất cảnh trái phép sang địa phận Campuchia xong về đến khu vực ấp Đông Lợi, xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh thì T tiếp tục trả cho Gi 300.000 đồng còn lại. Khoảng 13 giờ cùng ngày, anh S chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng Agribank số 5590206611200 của T số tiền còn lại 600.000 đồng như thoả thuận.
Đến khoảng 11 giờ ngày 02/11/2022, anh S tiếp tục sử dụng tài khoản Messenger tên “Hoàng V S” liên lạc với T qua tài khoản “Sống Cần” để thuê T đón, đưa anh S và anh Q từ địa phận Campuchia nhập cảnh trái phép vào địa phận Việt Nam với số tiền công là 1.000.000 đồng thì T đồng ý. Sau đó, anh S chuyển số tiền 500.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng Agribank số 5590206611200 của T. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu vàng-đen không biển số đi trên tuyến đường 792 đến khu vực cột mốc biên giới số 86 thuộc ấp 2, xã Suối Ngô, huyện Tân Châu theo đường mòn đi đến một quán cà phê (không rõ tên) ở ấp Sa Tum, xã Choam Kravien, huyện Memot, tỉnh Tbong Khmum, Campuchia đón và chở anh S, anh Q nhập cảnh trái phép vào địa phận Việt Nam. Khi đi qua cột mốc biên giới số 91, thuộc địa bàn ấp Trảng Ba Chân, xã Suối Ngô, huyện Tân Châu thì bị lực lượng kiểm soát lưu động Đồn Biên phòng Suối Lam- Bộ đội biên phòng tỉnh Tây Ninh phát hiện, bắt giữ.
Tại Cơ quan điều tra, Lâm Văn T và Lâm Hoàng Gi đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSTC ngày 20/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Lâm Văn T về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Lâm Hoàng Gi về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép”; bị cáo Lâm Hoàng Gi phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.
Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lâm Văn T từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Lâm Hoàng Gi từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.
Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng
Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước điện thoại di động của bị cáo T; giao cho Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử lý đối với xe mô tô không biển của bị cáo T theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều đã biết sai và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các bị cáo Lâm Văn T và Lâm Hoàng Gi thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, đã có đủ căn cứ xác định: Ngày 23/8/2022, tại khu vực cột mốc số 92 thuộc ấp Đông Lợi, xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Lâm Văn T, Lâm Hoàng Gi đã cùng thực hiện hành vi tổ chức cho 02 người gồm anh Hoàng Văn S, anh Trần Văn Q xuất cảnh trái phép sang Campuchia để hưởng lợi với số tiền là 800.000 đồng. Ngày 02/11/2022, tại khu vực cột mốc biên giới số 86 thuộc ấp 2, xã Suối Ngô, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, T tiếp tục thực hiện hành vi tổ chức cho anh S, anh Q nhập cảnh trái phép từ Campuchia vào Việt Nam để hưởng lợi với số tiền là 1.000.000 đồng thì bị phát hiện. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép”; bị cáo và Lâm Hoàng Gi phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Vụ án có tính chất nghiêm trọng; hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý, xuất nhập cảnh; gây mất an ninh, trật tự trị an xã hội. Khi thực hiện tội phạm, các bị cáo biết rõ việc tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện để thu lợi bất chính. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý nghiêm.
Trong vụ án này các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ. Trong đó, bị cáo T là người khởi xưởng, rủ rê bị cáo Gi phạm tội và phạm 02 tội phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Gi.
Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
Xét thấy, các bị cáo đều có nhân thân xấu, đều đã bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, nay lại cố ý phạm tội nên cần xử phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phat bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do các bị cáo không có tài sản để thi hành.
Về xử lý vật chứng:
Đối với điện thoại di động Oppo màu xanh, số seri MVS11FCMY9R4P2FY, số imei 1: 866314058146117, số imei 2: 866314058146109, gắn 02 sim, sim 1 số 0984038274, sim 2 không rõ số thu giữ của bị cáo T là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
Đối với xe mô tô hiệu Sirius màu vàng đen không biển kiểm soát, số máy: không có, số khung RL1DCB4L1AA052041 thu giữ của bị cáo T là xe không có giấy đăng ký nên giao cho Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Đối với số tiền 900.000 đồng bị cáo T đã nhận từ anh S và 400.000 đồng bị cáo Gi đã nhận của bị cáo T là số tiền các bị cáo thu lợi bất chính nên buộc các bị cáo nộp lại để sung và Ngân sách Nhà nước.
Đối với bà Nguyễn Thị Hương không biết việc Lâm Hoàng Gi sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 70K1-395.35 để phạm tội nên không xử lý là đúng quy định pháp luật.
Đối với bà Trần Thị Kiều không biết việc Lâm Văn T sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 70K1-282.11 để phạm tội nên không xử lý là đúng quy định pháp luật.
Đối với anh Hoàng Văn S, anh Trần Văn Q có hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất, nhập cảnh theo quy định, Đồn Biên phòng Suối Lam-Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục nhập cảnh theo quy định” mỗi người 4.000.000 đồng là đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
1.1. Xử phạt bị cáo Lâm Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2022.
1.2. Xử phạt bị cáo Lâm Hoàng Gi (Lộc Vĩnh) 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/4/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
2.1. Buộc bị cáo Lâm Văn T nộp lại số tiền 900.000 (chín trăm nghìn) đồng; bị cáo Lâm Hoàng Gi (Lộc Vĩnh) nộp lại số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
2.2. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước điện thoại di động Oppo màu xanh, số seri MVS11FCMY9R4P2FY, số imei 1: 866314058146117, số imei 2: 866314058146109, gắn 02 sim, sim 1 số 0984038274, sim 2 không rõ số.
2.3. Giao cho Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử lý theo quy định của pháp luật xe mô tô hiệu Sirius màu vàng đen không biển kiểm soát, số máy: không có, số khung RL1DCB4L1AA052041.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2023).
3. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Lâm Văn T và Lâm Hoàng Gi (Lộc Vĩnh) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh S, anh Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; TÒA - VKSND H.Tân Châu; - CCTHA-DS H. Tân Châu; - CQĐT Công an H. Tân Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Công an tỉnh Tây Ninh – Phòng PV 06; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - THA phạt tù; - Lưu tập án, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Đã ký Nguyễn Thành Chung |