vanban.org

Bản án 32/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 30/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô Văn L 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 06 tháng 4 năm 2023. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Tô Văn L có trách nhiệm trả cho anh Đinh Văn H số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HS-ST
Ngày 30-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giáp Thanh Long.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Bích Vân;

Bà Vy Thị Thơm.

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Slỉnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Phương Thị Tiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Tô Văn L, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2000 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn P và bà Bế Thị B; vợ, con: chưa có; tiền án: Tại Bản án số 37/2022/HS-ST ngày 19/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chưa được xóa án tích; tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giam từ ngày 06-4-2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983; cư trú tại: Khu N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đinh Văn H,

sinh năm 1997; cư trú tại: Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 05-4-2023 Tô Văn L đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đi từ nhà đến thị trấn L, huyện L để chơi. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, do không có tiền tiêu Tô Văn L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, Tô Văn L đi về hướng cửa khẩu Chi Ma để xem có ai sơ hở gì thì sẽ trộm cắp, khi đến khu vực Khu N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Tô Văn L thấy cửa nhà ông Nguyễn Văn H đang mở, bên trong phòng khách ông Nguyễn Văn H đang ngủ say trên ghế, quan sát xung quanh không có ai, Tô Văn L đi vào nhà và nhìn thấy trên bàn bên cạnh ông Hải có 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme 9 Pro 5G, vỏ màu xanh lá (lục), Tô Văn L cầm lấy chiếc điện thoại cất vào trong người rồi đi đến cửa hàng điện thoại của anh Đinh Văn H bán chiếc điện thoại di động vừa trộm cắp được với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng), số tiền này Tô Văn L đã tiêu xài cá nhân hết. Cùng ngày ông Nguyễn Văn H đến Công an huyện Lộc Bình trình báo sự việc, ngày 06-4-2023 Cơ quan điều tra triệu tập Tô Văn L đến làm việc, tại Cơ quan điều tra Tô Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của bản thân.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 06-4-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Realme 9 Pro 5G, vỏ màu xanh lá (lục), cũ, đã qua sử dụng có giá trị là 6.800.000 đồng (sáu triệu tám trăm nghìn đồng).

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lộc Bình đã tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme 9 Pro 5G, màu xanh lá (lục), số IMEI 1: 862132062096357, số IMEI 2: 862132062096340, tình trạng máy cũ, đã qua sử dụng. Ngày 10-4-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lộc Bình đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại điện thoại cho ông Nguyễn Văn H.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn H không có yêu cầu đề nghị gì. Anh Đinh Văn H yêu cầu Tô Văn L hoàn trả số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Tô Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã viện dẫn ở trên.

Bản Cáo trạng số: 39/CT-VKSLB, ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Tô Văn L về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Tô Văn L thừa nhận hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của bản thân như Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tô Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Tô Văn L từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Tô Văn L có trách nhiệm trả cho anh Đinh Văn H số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lộc Bình đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại điện thoại cho ông Nguyễn Văn H là đúng, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra và có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản xác định hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 05-4-2023 tại Khu N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, Tô Văn L đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme 9 Pro 5G, màu xanh lá (lục), chiếc điện thoại di động có giá trị 6.800.000 đồng của anh Nguyễn Văn H. Hành vi của bị cáo Tô Văn L đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt tài sản. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện Lộc Bình. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện sự coi thường pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người nhân thân không tốt, trước khi phạm tội lần này bị cáo đã từng bị xử lý trách nhiệm hình sự. Tại Bản án số 37/2022/HS-ST ngày 19/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, xử phạt Tô Văn L 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 26/12/2022 Tô Văn L chấp hành xong hình phạt tù, lần phạm tội này chưa được xóa án tích đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo tuy ít nghiêm trọng nhưng bị cáo đã từng bị xét xử về hành vi tương tự do đó vẫn cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ phần nào hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh thể hiện bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, sống phụ thuộc vào gia đình nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo Tô Văn L đồng ý trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Đinh Văn H số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc bị cáo Tô Văn L có trách nhiệm trả cho anh Đinh Văn H số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) và chịu lãi suất chậm trả theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.

Đối với người đàn ông cho bị cáo Tô Văn L đi nhờ xe mô tô đi từ nhà đến thị trấn Lộc Bình, do bị cáo Tô Văn L không biết rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Bình không có căn cứ xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Đinh Văn H là người nhận mua điện thoại di động cho bị cáo Tô Văn L, nhưng do anh Đinh Văn H không biết nguồn gốc điện thoại là trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Bình không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra ngày 10-4-2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lộc Bình đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại điện thoại cho ông Nguyễn Văn H là đúng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; các Điều 357, Điều 468, Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô Văn L 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 06 tháng 4 năm 2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Tô Văn L có trách nhiệm trả cho anh Đinh Văn H số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật và bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Án phí: Bị cáo Tô Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để nộp ngân sách nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ