vanban.org

Bản án 32/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 27/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ cá c Điều 135, 136, 292, 293, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử phạt bị cáo Vi Văn C 01 (mộ t) năm 06 (sáu) tháng tù về tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n” . Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 23/12/2022. Miễ n phạ t bổ sung bằ ng tiề n đố i vớ i bị cá o. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn Chỉnh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ cá c Điều 135, 136, 292, 293, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HS-ST
Ngày 27-3-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn La

2. Ông Nguyễn Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Ông Vi Đứ c Thứ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại điể m cầ u trự c tuyế n trụ sở Toà á n nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam , Công an tỉ n h Bắ c Giang đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

* Vi Văn C, sinh năm 1976. Tên gọ i khác: không.

Nơi cư trú: Thôn Hương Thân, xã Hương Sơn, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang.; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn Ú t (đã chế t) và bà Đà o Thị Mùi, sinh năm 1942; bị cáo chưa có vợ con.

Nhân thân:

- Bản án số 08/2000/HSST ngày 20/3/2000 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bản án số 584/2003/HSPT ngày 23/4/2003 của Toà án nhân dân tối cao xử phạt 02 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/02/2004.

- Bản án số 91/2008/HSST ngày 28/11/2008 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2014.

Tiền án:

- Bản án số 72/2018/HS-ST ngày 01/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt Vi Văn Chỉnh 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/4/2019. (tài sản trộm cắp trị giá 2.165.000 đồng)

- Bản án số 90/2019/HSST ngày 08/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt Vi Văn Chỉnh 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/4/2020. (tài sản trộm cắp trị giá 3.000.000 đồng)

- Bản án số 16/2022/HSST ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt Vi Văn Chỉnh 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/8/2022. (tài sản trộm cắp trị giá 1.000.000 đồng)

Tiền sự: Không.

Bị cáo đầ u thú , bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh Bắc Giang - Có mặt.

* Bị hại: Chị Vi Thị Nga , sinh năm 1968. Đị a chỉ : Thôn Hưở ng 8, xã Hương Sơn, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang. ĐT: 0388.665.680 - Vắ ng mặ t.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Nhung, sinh năm 1985. Đị a chỉ : Tổ dân phố số 3, thị trấn Kép, huyệ n Lạ ng Giang , tỉnh Bắc Giang - Vắ ng mặ t.

* Ngƣờ i là m chƣ́ ng : Anh Vũ Thế Hù ng , sinh năm 1968. Đị a chỉ : Thôn Hương Thân, xã Hương Sơn, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang - Vắ ng mặ t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vi Văn Chỉnh, sinh năm 1976 trú tại thôn Hương Thân, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang là đối tượng không có việc làm ổn định, đã 03 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích.

Khoảng 10 giờ sáng ngày 22/12/2022, Chỉnh đi bộ từ nhà xuống nhà chị gái ruột của mình là chị Vi Thị Nga, sinh năm 1968 ở thôn Hưởng 8, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang chơi. Đến nơi, Chỉnh thấy nhà chị Nga không có ai ở nhà nên đã tự mở cổng đi vào nằm ở thềm nhà đợi chị Nga về. Tại đây, Chỉnh nhìn thấy trước cửa bếp nhà chị Nga có để 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 99D1-294.36 nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô này, mang đi cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân. Để thực hiện ý định, Chỉnh nhặt 01 chiếc bấm móng tay ở thềm nhà cạnh nơi Chỉnh nằm rồi đi đến vị trí dựng chiếc xe mô tô 99D1-294.36, dùng thanh sắt hình dẹt (dụng cụ lấy dáy tai được tích hợp vào bấm móng tay) chọc vào ổ khoá điện chiếc và dùng tay phải vặn thanh sắt theo chiều kim đồng hồ thì mở được khoá điện của chiếc xe này. Sau đó, Chỉnh lên xe, nổ máy điều khiển chiếc xe của chị Nga đến nhà chị Nguyễn Thị Nhung, sinh năm 1985 ở tổ dân phố số 3, thị trấn Kép, huyện Lạng Giang đặt chiếc xe này lại làm tin để vay của chị Nhung số tiền 2.000.000 đồng. Khi đặt xe vay tiền, Chỉnh không nói cho chị Nhung biết nguồn gốc chiếc xe mô tô 99D- 294.36 là do trộm cắp mà có, mà nói dối chị Nhung đó là xe của mình. Số tiền này, Chỉnh dùng chi tiêu cá nhân hết.

Cùng ngày 22/12/2022, chị Vi Thị Nga đến Công an xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang trình báo sự việc bị mất tài sản (BL 17). Ngày 23/12/2022, sau khi Chỉnh được mời đến Công an xã Hương Sơn làm việc, Chỉnh đã đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp của bản thân như nêu ở trên (BL 19). Cùng ngày, Công an xã Hương Sơn bàn giao Chỉnh cùng toàn bộ hồ sơ vụ việc cho Công an huyện Lạng Giang giải quyết theo thẩm quyền.

Cũng trong ngày 23/12/2022, chị Nguyễn Thị Nhung giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 99D1-294.36. (BL 37).

Tại kết luận định giá số 115/KL-HĐĐGTS ngày 23/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lạng Giang, kết luận: 01 xe mô tô Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 99D1- 294.36, cũ đã qua sử dụng có giá 12.000.000 đồng. (BL 24).

Quá trình điều tra, bị cáo Vi Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 27 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Vi Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Vi Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đã nêu.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án đã trích lời khai của những người vắng mặt, bị cáo C nhất trí không có ý kiến gì về lời khai của họ.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Vi Văn C về tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điể m h khoản 1 Điề u 52, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2022; miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết. Về vật chứng: Không có. Về á n phí : Bị cáo thuộc hộ nghè o nên miễ n á n phí HSST đố i vớ i bị cá o . Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo đượ c hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang¸ điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

. Về thủ tụ c tố tụ ng: Tại phiên toà, bị hại và mộ t số ngườ i có quyề n lợ i nghĩa vụ liên quan vắ ng mặ t tạ i phiên toà (tuy nhiên những ngườ i nà y đã có lờ i khai đầ y đủ trong quá trì nh điề u tra). Căn cứ Điề u 292, Điề u 293 Bộ luậ t tố tụ ng hình sự, Hộ i đồ ng xé t xử tiế n hà nh xé t xử vắ ng mặ t nhữ ng ngườ i nà y.

. Xem xét về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 10 giờ 30 phút ngày 22/12/2022, tại nhà chị Vi Thị Nga, sinh năm 1968 ở thôn Hưởng 8, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, Vi Văn Chỉnh có hành vi trộm cắp của chị Nga 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 99D1- 294.36, trị giá 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì mục đích vụ lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Tài sản bị cáo trộm cắp có tổng giá trị 12.000.000đ, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng, nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 05 lầ n bị Toà án xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản, tộ i vi phạ m quy đị nh về điề u khiể n phương tiệ n giao thông đườ ng bộ và tội cướp tài sản.

Về tí nh tiế t tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự : Ngày 25/02/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/8/2022. Bị cáo đã bị kế t tộ i về tộ i trộ m cắ p tà i sả n nhưng chưa đượ c xoá á n tí ch nên lầ n phạ m tộ i nà y bị cá o phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định t ại điểm h khoản 1 Điề u 52 Bộ luật hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đầ u thú , thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hìn h phạ t cho bị cá o . Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần xem xét, áp dụng khi quyết định hình phạt.

Qua xem xét đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo đã nhiề u lầ n bị Tòa án xét xử về tộ i trộ m cắ p tà i sả n nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân để tu dưỡng, rèn luyện bản thân thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội mà tiế p tụ c có hành vi trộm cắp tài sản, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa như mứ c đề nghị củ a đạ i diệ n Việ n kiể m sá t tạ i phiên toà là phù hợ p.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để sung công quỹ Nhà nước. Song xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự ; ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan chị Nguyễ n Thị Nhung không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên Hộ i đồ ng xét xử không xét.

. Về vật chứng: chiếc xe mô tô biển kiểm soát 99D1- 294.36, kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Vi Thị Nga, ngày 27/12/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại chị Nga chiếc xe này. Chị Nga đã nhận lại tài sản, việ c trả vậ t chứ ng phù hợ p vớ i quy đị nh phá p luậ tnên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về các vấn đề khác:

- Đối với chị Nguyễn Thị Nhung là người nhận quản lý chiếc xe mô tô 98D1-294.36 làm tin, cho Chỉnh vay số tiền 2.000.000 đồng nhưng chị Nhung không biết nguồn gốc chiếc xe mô tô là do Chỉnh trộm mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý nên HĐXX không xem xé t.

- Đối với chiếc bấm móng tay có tích hợp dụng cụ lấy dáy tai Chỉnh dùng để mở khoá điện xe mô tô 99D1-294.36, Chỉnh khai trên đường đi đến nhà chị Nguyễn Thị Nhung đã bị rơi mất và không biết rơi ở đâu nên Cơ quan điều tra không truy tìm, thu giữ được nên HĐXX không xem xé t.

. Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo quy định Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về án phí: Bị cáo Vi Văn C thuộ c hộ nghè o nên đượ c miễ n á n phí hình sự sơ thẩm theo quy đị nh tạ i Điề u 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điể m h khoản 1 Điề u 52, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ cá c Điều 135, 136, 292, 293, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Xử phạt bị cáo Vi Văn C 01 (mộ t) năm 06 (sáu) tháng tù về tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n” . Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 23/12/2022.

Miễ n phạ t bổ sung bằ ng tiề n đố i vớ i bị cá o.

2. Về án phí: Bị cáo Vi Văn C đượ c miễ n nộ p tiề n á n phí hì nh sự sơ thẩ m.

3. Về quyề n khá ng cá o:

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

- Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Bắc Giang;

- Sở Tư phá p tỉ nh Bắ c Giang;

- VKSND huyện Lạng Giang;

- Công an huyện Lạng Giang;

- Chi cục THADS huyện Lạng Giang;

- Bị cáo, bị hại;

- Những người tham gia tố tụng khác;

- Lưu HS vụ á n, VP.

Vũ Thị Thiêm THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễ n Quang Vinh + Chu Quố c Đạ t

Vũ Thị Thiêm THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn La + Nguyễ n Văn Thanh

Vũ Thị Thiêm

Cỡ chữ