vanban.org

Bản án 32/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố: Bị cáo Hồ Thị Thu T phạm tội “Sử dụng T liệu giả của cơ quan, Xử phạt: Hồ Thị Thu T 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của c…"
  • Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HS-ST
Ngày: 28/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- T2 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Minh

2. Ông Nguyễn Thanh Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Văn Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn H Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc,

tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2023/TLST-HS

ngày 16/01/2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HS ngày

10/02/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/HSST - QĐ ngày 24/02/2023;

Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/HSST - QĐ ngày 20/3/2023, đối với bị cáo:

HỒ THỊ THU T - sinh năm 1986 tại Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu

thường trú và chỗ ở: khu phố P, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận;

Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn

giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha không rõ họ tên và mẹ Hồ Thị T; Gia đình có

02 chị em, bị cáo là con nhỏ nhất; CH tên Nguyễn Tấn T2 (chưa ly hôn), có 02 người

con, lớn nhất sinh năm 2006 và nhỏ nhất sinh năm 2016; Hiện sống với ông Nguyễn

Văn T1 (chưa đăng ký kết hôn), có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2020 và nhỏ nhất

sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Bị cáo

có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1989 (có mặt).

- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: khu phố P, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Ông Nguyễn Tấn T2, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn 1, xã S, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố P, thị trấn P, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau: Năm 2019, Hồ Thị Thu T sống chung với Nguyễn Văn T1 như vợ cH nhưng chưa đăng ký kết hôn, cả hai sống chung và ở cùng nhà với bà Nguyễn Thị L (mẹ ruột của Nguyễn Văn T1) ở khu phố Phú Trường, thị trấn Phú Long, huyện Hàm Thuận Bắc. Đến năm 2021, do muốn đăng ký thường trú vào hộ bà L nhưng thủ tục đăng ký thường trú cần có giấy chứng nhận kết hôn. T và T1 chưa có giấy chứng nhận kết hôn vì lúc này T và Nguyễn Tấn T2 ở thôn 1, xã Sông Lũy, huyện Bắc Bình đang trong tình trạng hôn nhân hợp pháp, cả hai vẫn chưa ly hôn (đã sống ly thân từ lâu). Đến tháng 02/2022 (không nhớ ngày cụ thể), T lên mạng xã hội Zalo thấy 01 T khoản có nick “Phạm Tuấn” nhận làm giả tất cả các T liệu giấy tờ, bằng cấp giả nên T nảy sinh ý định làm giấy chứng nhận kết hôn giả để đăng ký thường trú vào hộ bà L. Sau đó, T sử dụng điện thoại Samsung gắn sim số 0338.032.419 kết bạn Zalo với người này theo số điện thoại là 0335.028.683 và đề nghị người này làm giấy chứng nhận kết hôn giả thì được người này đồng ý làm giả giấy chứng nhận kết hôn với giá 1.500.000đồng. Người này yêu cầu T cung cấp thông tin và chứng minh nhân dân của T và T1. Sau đó, T và người này nhắn tin hẹn gặp nhau tại UBND xã H Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc. Khi cả hai gặp nhau, người đàn ông liên lạc với T giới thiệu mình tên “Kha” (chưa rõ nhân thân, lai lịch), T đưa giấy tờ liên quan cho người này. Khoảng 02 ngày sau, người có nick Zalo “Phạm Tuấn” nhắn tin với T để giao giấy chứng nhận kết hôn, T cho địa chỉ nhà mẹ ruột ở thôn Liêm Thuận, xã H Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc thì có 01 người thanh niên (chưa rõ nhân thân lai lịch) đến giao 01 giấy chứng nhận kết hôn số 08 giữa Hồ Thị Thu T và Nguyễn Văn T1 có chữ ký phần Chủ tịch UBND thị trấn Phú Long tên là Trương Thanh Liêm có đóng dấu mộc đỏ và trả lại giấy tờ mà T đã cung cấp. T nhận và giao đủ số tiền 1.500.000đồng cho người thanh niên này rồi cất giấy chứng nhận kết hôn giả số 08 ở nhà bà L (bà L và T1 không biết việc T làm giả giấy tờ trên). Đến ngày 14/3/2022, T sử dụng giấy chứng nhận kết hôn giả số 08 để làm thủ tục đăng ký thường trú vào hộ bà L. Công an thị trấn Phú Long tiếp nhận hồ sơ và không phát hiện việc T dùng giấy chứng nhận kết hôn giả số 08 để đăng ký thường trú nên đã nhập khẩu cho T với tư cách con dâu vào hộ của bà L.

Đến khoảng tháng 6/2022, con của T và T1 là Nguyễn T1 Hậu, sinh ngày

17/4/2022 bị bệnh cần có thẻ bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh nhưng cháu Hậu chưa có giấy khai sinh để làm thẻ. T tiếp tục nảy sinh ý định dùng giấy chứng nhận kết hôn giả số 08 để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con. Khoảng 10 giờ ngày 15/6/2022, T

đến Bộ phận một cửa của UBND thị trấn Phú Long để làm giấy khai sinh cho con.

Tại đây, T nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký khai sinh trong đó có giấy chứng nhận kết hôn

giả số 08. Khi tiếp nhận hồ sơ của T thì bà Nguyễn Thị H (công chức Văn phòng

Thống kê - phụ trách bộ phận một cửa) kiểm tra giấy chứng nhận kết hôn của T thì

phát hiện có dấu hiệu bất thường, nghi ngờ T làm giả giấy chứng nhận kết hôn để làm

thủ tục đăng ký khai sinh, bà H điện thoại báo tin cho Công an thị trấn Phú Long

đồng thời hẹn T đến 14 giờ cùng ngày lên nhận kết quả. Đến 14 giờ cùng ngày (ngày

15/6/2022), T lên Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Long để nhận kết quả thì bị Công an

thị trấn mời T về trụ sở để làm việc. Tại đây, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội

của mình. Công an thị trấn Phú Long tiến hành thu giữ T liệu liên quan đến hành vi

phạm tội của T là 01 giấy chứng nhận kết hôn giả số 08, còn chiếc điện thoại

Samsung T sử dụng để kết bạn và liên lạc với người có nick Zalo “Phạm Tuấn” để

làm giấy tờ giả, T đã làm mất chiếc điện thoại trên (theo T khai nhận) nên Công an

không thu giữ được.

Bản kết luận giám định số 932/KL- KTHS ngày 07/9/2022 của Phòng kỹ

thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận như sau:

1. Mẫu giám định:

Giấy chứng nhận kết hôn số 08 đề ngày, tháng, năm đăng ký: 15/02/2022, nơi

đăng ký kết hôn: Uỷ ban thị trấn Phú Long, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận,

mang tên Hồ Thị Thu T và Nguyễn Văn T1 (ký hiệu A)

2. T liệu có liên quan (mẫu so sánh):

- 01 phôi giấy chứng nhận kết hôn do UBND thị trấn Phú Long cung cấp.

- 01 “Bảng thu giữ mẫu dấu” đề ngày 25/8/2022 (ký hiệu M).

V. Kết luận về đối tượng giám định:

- Mẫu phôi giấy Chứng nhận kết hôn ký hiệu A là giả.

- Hình dấu tròn màu đỏ trên T liệu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu

tròn màu đỏ có nội dung: “U.B.N.D THỊ TRẤN PHÚ LONG H.HÀM THUẬN BẮC

T BÌNH THUẬN ★” trên T liệu mẫu so sánh ký hiệu M là không phải được in ra từ

cùng một con dấu.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSHTB ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát

nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố: Bị cáo Hồ Thị Thu T về tội “Sử dụng T liệu

giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Bị cáo Hồ Thị Thu T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo

trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh,

điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật

hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Thị Thu T từ 24 tháng đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng.

Ý kiến của bị cáo Hồ Thị Thu T: Bị cáo bị xét xử về tội “Sử dụng T liệu giả

của cơ quan tổ chức” là đúng, không oan. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm

Thuận Bắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng

mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ, được cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.

[3] Căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Thị Thu T khai nhận về hành vi

phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, các T liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Sau khi đặt và nhận được giấy chứng nhận kết hôn giả số 08 giữa Hồ Thị Thu T và Nguyễn Văn T1. Ngày 14/3/2022, tại Công an thị trấn Phú Long, huyện Hàm Thuận Bắc, Hồ Thị Thu T đã sử dụng giấy chứng nhận kết hôn giả số 08 có chữ ký phần Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Long là Trương Thanh Liêm và đóng dấu mộc đỏ để đăng ký thường trú vào hộ bà Nguyễn Thị L ở khu phố Phú Trường, thị trấn Phú Long, huyện Hàm Thuận Bắc. Do không biết giấy chứng nhận kết hôn của Hồ Thị Thu T là giả nên Công an thị trấn Phú Long đồng ý và cho T nhập khẩu vào hộ bà L. Đến khoảng 10 giờ ngày 15/6/2022 tại Bộ phận một cửa của Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Long, huyện Hàm Thuận Bắc, Hồ Thị Thu T tiếp tục sử dụng giấy chứng nhận kết hôn giả số 08 trên để nộp hồ sơ đăng ký khai sinh cho con T với T1 là Nguyễn T1 Hậu, sinh

ngày 17/4/2022 thì bị phát hiện. Tại Công an thị trấn Phú Long, Hồ Thị Thu T đã

thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Hành vi của bị cáo Hồ Thị Thu T đã phạm vào tội “Sử dụng T liệu giả của cơ

quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự. Viện kiểm

sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là

có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên

tòa bị cáo khai báo T2 khẩn, ăn năn hối cải là hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt,

chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.

[6] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận

định: Bị cáo Hồ Thị Thu T là người có đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm

hình sự, nhận thức được hành vi sử dụng T liệu giả của cơ quan, tổ chức là trái pháp

luật, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước nhưng bị cáo vẫn coi

thường pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy cần thiết phải áp

dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục,

răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, đã chấp hành đúng chính

sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, hành vi

phạm tội của bị cáo không nhằm mục đích lừa đảo, chiếm đoạt T sản của người khác

mà xuất phát từ tình thương của người mẹ dành cho con của mình mà bị cáo bất chấp

pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội để có giấy khai sinh lo cho con đang nhập viện

giảm bớt chi phí điều trị. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách

ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương

và gia đình quản lý là đủ để giáo dục bị cáo T2 người công dân tốt, có ích cho xã hội.

Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, Hội

đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự, xét thấy mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp

nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét, quyết định khi lượng hình.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự

quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến

50.000.000đồng …” lẽ ra bị cáo còn có thể bị phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo không

có nghề nghiệp ổn định và không có T sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp

dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với người có nick Zalo “Phạm Tuấn” là người T liên lạc để làm giấy

chứng nhận kết hôn giả số 08; người dùng số điện thoại 0335.028.683 để đăng ký nick Zalo “Phạm Tuấn”; người có tên “Kha” là người T gặp tại Ủy ban nhân dân xã H Liêm và 01 thanh niên là người giao nhận giấy chứng nhận kết hôn giả số 08 (theo T khai nhận). Quá trình điều tra đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể của những người có tên trên như T khai nhận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã ra Quyết định tách hành vi và T liệu liên quan trong vụ án hình sự số 01 ngày 10/01/2023 để tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thị L không biết T sử dụng giấy chứng

nhận kết hôn giả số 08 để thực hiện việc đăng ký thường trú cho T và làm khai sinh cho con T và T1, bà L và T1 cũng không tạo điều kiện hay giúp sức gì cho T phạm tội nên không đồng phạm với T về tội: “Sử dụng T liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một cH của Hồ Thị Thu T

và Nguyễn Văn T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã có công văn đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Long xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là đúng quy định pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo Hồ Thị Thu T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật

hình sự.

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố: Bị cáo Hồ Thị Thu T phạm tội “Sử dụng T liệu giả của cơ quan,

tổ chức”.

Xử phạt: Hồ Thị Thu T 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian

thử thách là 04 (bốn) năm, tính kể từ ngày tuyên án (ngày 28/3/2023).

Giao bị cáo Hồ Thị Thu T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Long, huyện Hàm

Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nơi bị cáo T cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự

02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp

hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3/ Về án phí: Bị cáo Hồ Thị Thu T phải nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng)

án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền

kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/3/2023).

Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án

trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai

tại địa phương.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Hồ Thị Thu T).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ