vanban.org

Bản án 32/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 21/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Xuân T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân T 03 (ba) năm tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 19 tháng 12 năm 2022. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586, 588, 590 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích bị cáo Huỳnh Xuân T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Xuân T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HS-ST.
Ngày 07/4/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Thanh Chúc.

Ông Trương Văn Mên.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Đầy, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Út - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2023/TLST - HS, ngày 01 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 3 năm 2023 đối với:

Bị cáo Huỳnh Xuân T, sinh ngày 16 tháng 4 năm 1995, nơi sinh tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Khóm Mỹ C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thanh X, sinh năm 1972 và bà Giáp Thị P, sinh năm 1975; anh, chị, em ruột gồm có 03 người (kể cả bị cáo) lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2007. Tiền án: 01 lần. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2019/HS-ST, ngày 24/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xử phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong án phạt vào ngày 29/4/2021, đến nay chưa xóa án tích; Tiền sự: Không; nhân thân: Xấu. bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 19/12/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

Bị hại: Anh Trần Thuận T1, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Khóm Mỹ C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Thạch Chane Ta R, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt, có đơn vắng mặt.

- Bà Đào Thị T2, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Khóm Mỹ C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Người làm chứng:

- Ông Trần Xuân H, sinh năm 1968. Có mặt.

- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1985. Vắng mặt không lý do.

Cùng cư trú: Khóm Mỹ C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Ông Nguyễn Chí L, sinh năm 1969. Có mặt.

- Anh Dương Công H1, sinh năm 1987. Có mặt.

Cùng cư trú: Ấp M, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Anh Huỳnh Thanh T3, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Ấp G, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Vật chứng đưa ra xem xét tại phiên tòa gồm:

- Một cây dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 48cm, lưỡi dao dài 34cm, bản rộng 5,5cm, sắc bén một bề, cán dao tròn dài 14cm, đường kính 2,5cm, mũi dao nhọn.

- 02 ghế nhựa màu đỏ, loại ghế không có lưng tựa, kích thước đều nhau, mặt ghế hình vuông, kích thước cạnh 26cm, chiều cao 45 cm, ghế cũ đã qua sử dụng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/10/2022, tại nhà bà Đào Thị T2, ngụ khóm M, thị trấn C, huyện C có tổ chức uống rượu, bia gồm có ông Trần Xuân H (chồng bà T2), Trần Thuận T1 (con bà T2), Huỳnh Thanh T3, anh Dương Công H1 và ông Nguyễn Chí L. Lúc này, bị cáo đang ngồi uống bia một mình tại nhà bị cáo ở đối diện nhà bà T2, bị cáo nhớ lại vào đêm ngày 09/10/2022 bị cáo đến tiệm tạp hóa của bà T2 hỏi mua card điện thoại, do không có tiền nên bà T2 không bán, dẫn đến hai bên xảy ra mâu thuẫn cự cãi nhau.

Bị cáo bực tức nên nảy sinh ý định lấy dao qua nhà bà T2 chém anh T1 gây thương tích. Bị cáo cầm dao tự chế bằng kim loại dài 48 cm, lưỡi dao dài 34 cm, bản rộng 5,5 cm, sắc bén một bề, cán dao tròn dài 14 cm, đường kính 2,5 cm, mũi dao nhọn, đi bộ từ nhà sang Quốc lộ E rồi đi thẳng vào nhà bà T2 chổ anh T1 cùng mọi người đang ngồi uống rượu, bia. Trên đường đi bị cáo có nhặt một tấm vải màu xám để quấn dao lại, khi đến chổ anh T1, bị cáo nói lớn “hôm bữa qua cha con mày đánh tao phải không”. Vừa nói xong, bị cáo rút dao ra khỏi tấm vải, cầm dao bằng tay phải chém về phía anh Nguyễn Chí L, anh L cầm ghế nhựa màu đỏ chuẩn bị đưa lên đỡ thì lưỡi dao chém trúng vào mặt ghế, lúc này anh L buông ghế bỏ chạy.

Thấy vậy, anh T1 cũng cầm cái ghế nhựa màu đỏ chạy phía trước sân nhà, bị cáo cầm dao đuổi theo, thấy bị cáo đi gần đến thì anh T1 quay mặt lại đứng đối diện với bị cáo cách khoảng 01 mét. Lúc này, bị cáo cầm dao bằng tay phải đưa lên cao chém về phía anh T1 một cái theo hướng từ trên xuống. Anh T1 cầm ghế nhựa đưa lên đỡ với tư thế dùng hai tay cầm giữa chân ghế, quay bốn chân ghế hướng về phía bị cáo, mặt ghế quay vào người anh T1. Lúc này, bề sắc bén lưỡi dao trúng vào cạnh chân ghế trượt xuống trúng vào mu bàn tay trái của anh T1 một cái gây thương tích. Anh T1 dùng ghế nhựa đang cầm trên tay đẩy bị cáo làm bị cáo té ngửa người vào bụi cây dứa gần đó. Sau đó, bị cáo đứng dậy cầm dao đi về nhà.

Anh T1 được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ. Đến ngày 14/10/2022, anh T1 được xuất viện về nhà và có đơn yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật và đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Huỳnh Xuân T, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thụ lý giải quyết.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 191/22/TgT ngày 30/11/2022 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh T đối với anh Trần Thuận T1 kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Thuận T1 là 16% (mười sáu phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương trên là do ngoại lực tác động trực tiếp; vật gây ra thương tích trên là vật cứng có cạnh sắc; hướng từ trên xuống.

Ngày 16/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo Huỳnh Xuân T về tội Cố ý gây thương tích và áp dụng biện pháp ngăn chặn ra Lệnh bắt bị cáo tạm giam từ ngày 19/12/2022 cho đến nay.

Ngày 03/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định thực nghiệm điều tra, đưa bị cáo Huỳnh Xuân T, những người liên quan và các đồ vật đến hiện trường tiến hành thực nghiệm điều tra. Kết quả thực nghiệm điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với nội dung diễn biến vụ án, phù hợp với tư thế chiều hướng tác động, vị trí vết thương trên người của bị hại.

Đối với tấm vải màu xám mà bị cáo dùng để quấn cây dao trước khi qua nhà bà T2 để chém gây thương tích cho anh T1 là vật chứng liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy.

Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Thuận T1 yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản chi phí điều trị gồm: Chi phí điều trị tại bệnh viện: 8.036.032 đồng; tiền thuê xe chở đi khám và điều trị: 1.000.000 đồng; tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh: 1.600.000 đồng; tiền thiệt hại tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm hại: 14.900.000 đồng. Tổng cộng là 25.536.032 đồng, đến nay bị cáo chưa bồi thường.

Đối với anh Thạch Chane T4 Ra là chủ sở hữu của 02 cái ghế nhựa màu đỏ, bị cáo chém làm hư hỏng. Qua làm việc, anh Thạch Chane T4 Ra không yêu cầu bị cáo bồi thường và cũng không nhận lại 02 ghế nhựa màu đỏ.

Tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKS-HS, ngày 28/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh đã quyết định truy tố bị cáo Huỳnh Xuân T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Xuân T khai nhận: Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 10/10/2022, tại nhà bà Đào Thị T2, ngụ khóm M, thị trấn C, có tổ chức uống rượu, bia gồm có ông Trần Xuân H, Trần Thuận T1 (con bà T2) và một số người khác. Lúc này, bị cáo đang uống bia một mình tại nhà của bị cáo ở đối diện nhà bà T2. Bị cáo nhớ lại vào đêm trước giữa bị cáo và bà T2 có xảy ra mâu thuẫn cự cãi nhau nên bị cáo cầm 01 cây dao tự chế đi qua nhà bà T2 chém anh Trần Thuận T1 trúng vào mu bàn tay trái, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể qua giám định là 16%. Bị cáo nhận biết dao là hung khí nguy hiểm, khi chém vào người anh T1 sẽ gây thương tích, trong vụ án này bị cáo nhận thấy mình có lỗi.

Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo khai là tự nguyện, đúng sự thật, không ai ép buộc, bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng, mà hoàn toàn thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa bị hại anh Trần Thuận T1 trình bày: Nguyên nhân vào đêm 09/10/2022 bị cáo qua tiệm tạp hóa nhà anh mua card điện thoại thiếu, bà T2 mẹ anh không bán, bị cáo cự cãi rồi dùng chân đá ngã thùng bia, anh thấy vậy mới xô bị cáo ra về, lát sau bị cáo trở lại cầm dao chém nhiều nhát vào cửa kéo, mặt dù có báo Công an nhưng không có ai đến. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 10/10/2022, anh đang uống rượu, bia tại nhà thì bị cáo cầm dao đi qua chém anh gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 16%. Trong vụ việc này anh thấy không có lỗi gì với bị cáo, nay anh vẫn giữ nguyên đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo. Về trách nhiệm hình sự anh yêu cầu xử bị cáo theo quy định pháp luật, về trách nhiệm dân sự anh yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản chi phí điều trị gồm: Chi phí điều trị tại Bệnh viện: 8.036.032 đồng; tiền thuê xe chở đi khám và điều trị: 1.000.000 đồng; tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh: 1.600.000 đồng; tiền thiệt hại tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm hại: 14.900.000 đồng. Tổng cộng là 25.536.032 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Xuân T đồng ý bồi thường số tiền 25.536.032 đồng cho anh Trần Thuận T1.

Tại phiên tòa anh Thạch Chane T4 Ra vắng mặt và có làm đơn xin vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên ông Hà Văn Ú đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Xuân T phạm tội “Cố ý gây thương tích”, áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân T từ 02 năm đến 03 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Xuân T bồi thường các khoản chi phí điều trị số tiền 25.536.032 đồng cho anh Trần Thuận T1. Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng, buộc bị cáo nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Huỳnh Xuân T nói lời sau cùng: Bị cáo không trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Huỳnh Xuân T khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng mô tả, phù hợp với lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/10/2022, tại nhà bà Đào Thị T2, ngụ khóm M, thị trấn C, huyện C có tổ chức uống rượu, bia gồm có ông Trần Xuân H (chồng bà T2), Trần Thuận T1 (con bà T2); anh Huỳnh Thanh T3; anh Dương Công H1 và ông Nguyễn Chí L. Lúc này, bị cáo đang ngồi uống bia một mình tại nhà bị cáo ở đối diện nhà bà T2, bị cáo nhớ lại vào đêm ngày 09/10/2022 bị cáo đến tiệm tạp hóa của bà T2 hỏi mua card điện thoại nhưng không có tiền, bà T2 không bán, dẫn đến mâu thuẫn cự cãi nhau, chưa được giải quyết.

Bị cáo bực tức nên nảy sinh ý định lấy dao qua nhà bà T2 chém gây thương tích cho anh T1. Bị cáo cầm dao tự chế bằng kim loại dài 48 cm, lưỡi dao dài 34 cm, bản rộng 5,5 cm, sắc bén một bề, cán dao tròn dài 14 cm, đường kính 2,5 cm, mũi dao nhọn, đi bộ từ nhà sang Quốc lộ E rồi đi thẳng vào nhà bà T2 chổ anh T1 cùng mọi người đang ngồi uống rượu, bia. Trên đường đi bị cáo có nhặt một tấm vải màu xám quấn dao lại, khi đến chổ anh T1 thì bị cáo nói lớn “hôm bữa qua cha con mày đánh tao phải không”. Vừa nói xong, bị cáo rút dao ra khỏi tấm vải, cầm dao bằng tay phải chém về phía anh Nguyễn Chí L, anh L cầm ghế nhựa màu đỏ chuẩn bị đưa lên đỡ thì lưỡi dao chém trúng vào mặt ghế, lúc này anh L buông ghế bỏ chạy. Thấy vậy, anh T1 cũng cầm cái ghế nhựa màu đỏ chạy phía trước sân nhà, bị cáo cầm dao đuổi theo anh T1, thấy bị cáo đi gần đến, anh T1 quay mặt lại đứng đối diện với bị cáo cách khoảng 01 mét. Lúc này, bị cáo cầm dao bằng tay phải đưa lên cao chém về phía anh T1 01 cái theo hướng từ trên xuống. Anh T1 cầm ghế nhựa đưa lên đỡ với tư thế dùng hai tay cầm giữa chân ghế, quay bốn chân ghế hướng về phía bị cáo, mặt ghế quay vào người anh T1. Lúc này, bề sắc bén lưỡi dao trúng vào cạnh chân ghế trượt xuống trúng vào mu bàn tay trái anh T1 một cái gây thương tích. Anh T1 dùng ghế nhựa đang cầm trên tay đẩy bị cáo làm cho bị cáo té ngửa người vào bụi cây dứa gần đó. Sau đó, bị cáo đứng dậy cầm dao đi về nhà. Anh T1 được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ. Đến ngày 14/10/2022, anh T1 được xuất viện về nhà và có đơn yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật và xử lý hình sự đối với Huỳnh Xuân T.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 191/22/TgT ngày 30/11/2022 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh T đối với anh Trần Thuận T1 kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Thuận T1 là 16% (mười sáu phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương trên là do ngoại lực tác động trực tiếp; vật gây ra thương tích trên là vật cứng có cạnh sắc; hướng từ trên xuống.

Từ đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Huỳnh Xuân T phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi vì sức khỏe của con người là vốn quí của xã hội và được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác đều phải xử lý theo quy định pháp luật. Trong vụ án này nguyên nhân xuất phát vào đêm ngày 09/10/2022 bị cáo đến tiệm tạp hóa của bà T2 (mẹ anh T1) hỏi mua card điện thoại, do bị cáo không có tiền, bà T2 không bán, dẫn đến xảy ra mâu thuẫn một bên gồm bà T2, ông H, anh T1, bộ bên bị cáo cự cãi gây gỗ với nhau, sự việc chưa được giải quyết dứt điểm, có báo Công an nhưng không có ai đến giải quyết, thì đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/10/2022, tại nhà bà Đào Thị T2, có tổ chức uống rượu, bia gồm có ông Trần Xuân H, Trần Thuận T1 (con bà T2); Huỳnh Thanh T3; anh Dương Công H1 và ông Nguyễn Chí L, bị cáo nhớ lại sự việc đêm qua nên đã cầm dao qua nhà bà T2 chém anh T1 bị thương tích với tỷ lệ thương tật là 16%, từ đó đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là Tái phạm.

- Về các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm hoàn thành, hậu quả đã xảy ra. Bị cáo nhận thức và biết rõ dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 48cm, lưỡi dao dài 34cm, bản rộng 5,5cm, sắc bén một bề, cán dao tròn dài 14cm, đường kính 2,5cm, mũi dao nhọn, là hung khí nguy hiểm, khi chém vào cơ thể con người sẽ gây thương tích, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện phạm tội đến cùng, hành vi phạm tội của bị cáo rất hung hãn, bất chấp, xem thường pháp luật và sức khỏe của người khác, thích dùng bạo lực để xử lý vụ việc, gây ra dư luận không tốt trong đời sống xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Xét nhân thân bị cáo có 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2019/HS-ST, ngày 24/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xử phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 29/4/2021, nhưng chưa xóa án tích thì đến ngày 10/10/2022 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù nhất định, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho xã hội.

. Trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại do sức khỏe và tài sản bị xâm phạm:

- Tại phiên tòa bị hại anh Trần Thuận T1 yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản chi phí điều trị gồm: Chi phí điều trị tại Bệnh viện: 8.036.032 đồng; tiền thuê xe chở đi khám và điều trị: 1.000.000 đồng; tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh: 1.600.000 đồng; tiền thiệt hại tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm hại: 14.900.000 đồng. Tổng cộng là 25.536.032 đồng. Bị cáo Huỳnh Xuân T đồng ý bồi thường số tiền 25.536.032 đồng cho anh T1. Xét thấy sự thỏa thuận giữa anh T1 và bị cáo là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này.

- Đối với 02 ghế nhựa màu đỏ, loại ghế không có lưng tựa, kích thước đều nhau, mặt ghế hình vuông, kích thước cạnh 26cm, chiều cao 45 cm, ghế cũ đã qua sử dụng là của anh Thạch C1 Ta Ra, bị cáo cầm dao chém bị hư hỏng ghế. Do anh Thạch Chane T4 Ra không yêu cầu bị cáo bồi thường. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về xử lý vật chứng gồm: Một cây dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 48cm, lưỡi dao dài 34cm, bản rộng 5,5cm, sắc bén một bề, cán dao tròn dài 14cm, đường kính 2,5cm, mũi dao nhọn là của bị cáo, bị cáo sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội. Đối với 02 ghế nhựa màu đỏ, loại ghế không có lưng tựa, kích thước đều nhau, mặt ghế hình vuông, kích thước cạnh 26cm, chiều cao 45 cm, ghế cũ đã qua sử dụng của anh Thạch C1 Ta Ra, bị cáo đã cầm dao chém hỏng 02 ghế nhựa, anh R cũng không nhận lại do không còn giá trị sử dụng. Hội đồng xét xử quyết định tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng nêu trên.

. Về án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Huỳnh Xuân T nộp theo quy định pháp luật.

. Xét lời luận tội của Kiểm sát viên trình bày về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Xuân T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân T 03 (ba) năm tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 19 tháng 12 năm 2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586, 588, 590 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Huỳnh Xuân T bồi thường cho anh Trần Thuận T1 số tiền là 25.536.032 đồng (Hai mươi lăm triệu, năm trăm ba mươi sáu nghìn, không trăm ba mươi hai đồng).

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm cho bên được thi hành khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy:

- Một cây dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 48 cm, lưỡi dao dài 34 cm, bản rộng 5,5 cm, sắc bén một bề, cán dao tròn dài 14 cm, đường kính 2,5 cm, mũi dao nhọn.

- 02 ghế nhựa màu đỏ, loại ghế không có lưng tựa, kích thước đều nhau, mặt ghế hình vuông, kích thước cạnh 26 cm, chiều cao 45 cm, ghế cũ đã qua sử dụng.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Xuân T nộp 200.000 đồng án phí.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Xuân T nộp 1.276.801 đồng án phí.

6. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; các điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ