- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Nguyễn Thuyền Quyên - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HS-PT Ngày: 24/3/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Vĩnh Hữu.
Các Thẩm phán: Ông Võ Trung Hiếu.
Ông Mai Văn Hùng Cường.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Mơ - Thư ký.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2023/TLPT-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2022/HS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần Nguyễn Thuyền Q, sinh ngày 01/7/1991, tại tỉnh Tiền Giang;
Nơi cư trú: Ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang;
Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hoá: 11/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị L;
Bị cáo có chồng Nguyễn Văn H và 02 con;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 23/7/2022, thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/7/2022;
Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
*. Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền trả nợ và biết được vợ chồng anh V có tài sản nên bị cáo Q nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền trả nợ. Khoảng 17 giờ ngày 21/7/2022, lợi dụng lúc không có ai ở nhà và phòng của anh V không khóa nên bị cáo Q đi vào lấy chìa khóa bàn trang điểm được treo trên thanh sắt phía bên trong thành giường ngủ, mở hộc tủ dưới cùng của bàn trang điểm trộm cắp 03 hộp đựng vàng bằng nhựa màu đỏ, dạng hộp tròn, trên hộp có ghi chữ "vàng bạc đá quý" vào 01 bóp da màu đỏ không nhãn hiệu, trên bóp có ký hiệu chanel, loại hai ngăn kéo. Bị cáo Q đem tài sản trộm cắp về phòng ngủ kiểm tra thấy bên trong 03 hộp đựng vàng gồm có: 01 nhẫn trơn vàng 24K, trọng lượng 02 chỉ; 01 sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 05 chỉ; 01 dây chuyền vàng 18K trọng lượng 3,5 chỉ; 01 nhẫn gắn hột màu đỏ, vàng 18K trọng lượng 1,1 chỉ; 01 lắc vàng 18K, trọng lượng 03 chỉ; 01 lắc vàng 18K, trọng lượng 0,5 chỉ; 01 vòng đeo tay vàng 14K, trọng lượng 0,6 chỉ; 01 sợi dây kim loại màu vàng. Bị cáo Q để tất cả số vàng trên vào gói nylon màu trắng, cất giấu dưới gối trong phòng ngủ, đồng thời để 03 vỏ hộp đựng vàng vào giỏ để quần áo của con bị cáo Q; riêng cái bóp da kiểm tra bên trong không có tài sản, bị cáo Q đem ra phía sau vườn ném bỏ;
Đến khoảng 08 giờ ngày 22/7/2022, bị cáo Q điều khiển xe mô tô biển số 63B1-269.95 của anh Nguyễn Văn H là chồng của bị cáo đem số vàng trộm cắp được đến tiệm vàng T ở chợ H để bán. Tại đây, chị Đoàn Thị Cẩm N là nhân viên của tiệm vàng cùng bà Lê Thị Thanh T là chủ tiệm vàng cùng kiểm tra, cân vàng và thu mua toàn bộ số vàng mà bị cáo Q trộm cắp với số tiền là 47.500.000 đồng. Có được tiền, bị cáo Q trả nợ vay qua app ứng dụng điện tử hết. Riêng 01 sợi dây kim loại màu vàng, sau khi bà T kiểm tra xác định là vàng giả nên bà T không thu mua và trả lại cho bị cáo Q, bị cáo Q đem về nhà cất giấu trong nhà vệ sinh của gia đình, sau đó chỉ cho Cơ quan điều tra thu hồi.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 40/KLĐG-TTHS ngày 25/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Cái Bè, xác định: Nhẫn trơn vàng 24K, trọng lượng 02 chỉ có giá trị 10.260.000 đồng; Sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 05 chỉ có giá trị 18.550.000 đồng; Dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 3,5 chỉ có giá trị 12.985.000 đồng; Nhẫn gắn hột màu đỏ, vàng 18K, trọng lượng 1,1 chỉ có giá trị 4.081.000 đồng; Lắc vàng 18K trọng lượng 3 chỉ có giá trị 11.130.000 đồng; Lắc vàng 18K trọng lượng 0,5 chỉ có giá trị 1.855.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị mất trộm là 58.861.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2022/HS-ST ngày 30/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã Quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 23/7/2022 đến ngày 29/7/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
*. Ngày 06/01/2023, bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q có đơn kháng cáo với nội dung: Xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin xem xét được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và bị cáo đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình Sự;
Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đưa ra nhiều luận cứ phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét thời hạn kháng cáo của bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào đơn kháng cáo ngày 06/01/2023, bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q kháng cáo trong thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình Sự;
. Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q về việc xin xem xét được hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về ý thức chủ quan, bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q biết rằng hành vi trộm cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo lợi dụng việc sống cùng gia đình, sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội như sau: Khoảng 17 giờ ngày 21/7/2022, lợi dụng lúc không có ai ở nhà và phòng của anh V không khóa nên bị cáo Q đi vào lấy chìa khóa bàn trang điểm được treo trên thanh sắt phía bên trong thành giường ngủ, mở hộc tủ dưới cùng của bàn trang điểm trộm cắp 03 hộp đựng vàng bằng nhựa màu đỏ, dạng hộp tròn, trên hộp có ghi chữ "vàng bạc đá quý" vào 01 bóp da màu đỏ không nhãn hiệu, trên bóp có ký hiệu chanel, loại hai ngăn kéo; Ngày 22/7/2022, bị cáo Q đem số vàng trộm cắp được đến tiệm vàng T ở chợ H để bán với số tiền là 47.500.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 40/KLĐG-TTHS ngày 25/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Cái Bè, xác định: Nhẫn trơn vàng 24K, trọng lượng 02 chỉ có giá trị 10.260.000 đồng; Sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 05 chỉ có giá trị 18.550.000 đồng; Dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 3,5 chỉ có giá trị 12.985.000 đồng; Nhẫn gắn hột màu đỏ, vàng 18K, trọng lượng 1,1 chỉ có giá trị 4.081.000 đồng; Lắc vàng 18K trọng lượng 3 chỉ có giá trị 11.130.000 đồng; Lắc vàng 18K trọng lượng 0,5 chỉ có giá trị 1.855.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị mất trộm là 58.861.000 đồng.
Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm cho gia đình mất lòng tin, hoang mang, lo sợ trong khi bị cáo còn trẻ, trong độ tuổi lao động nhưng với bản tính tham lam, lười lao động nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chính người thân trong gia đình;
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo Q: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Bị cáo có bà ngoại là mẹ Việt Nam anh hùng, có cha là thương binh 3/4 và hai cậu ruột là liệt sĩ, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và đã xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xử phạt bị cáo 02 năm là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo;
Tuy nhiên, bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo còn phải nuôi hai con nhỏ, bị cáo đã khắc phục hậu quả cho người bị hại, người bị hại có làm đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo, gia đình bị cáo có công cách mạng, cha bị cáo cũng là thương binh, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần giảm một phần hình phạt đối với bị cáo.
Vì thế Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q cho nên cần sửa án sơ thẩm.
. Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử;
. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
. Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình Sự;
1. Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q;
Sửa bản án sơ thẩm số 128/2022/HS-ST ngày 30/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang;
Tuyên bố bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 23/7/2022 đến ngày 29/7/2022.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm:
Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình Sự;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trần Nguyễn Thuyền Q không phải chịu phí hình sự phúc thẩm.
4. Các Quyết định khác Bản án hình sơ thẩm số 128/2022/HS-ST ngày 30/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị;
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| *. Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện Cái Bè; - VKSND huyện Cái Bè; - THAHS CA tỉnh Tiền Giang; - Phòng hồ sơ CA tỉnh Tiền Giang; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, AV; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Vĩnh Hữu |