- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST Ngày 28-4-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh
2. Bà Nguyễn Thị Bạch Gương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 293/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2023/QĐST – HNGĐ ngày 12/4/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Như T, sinh năm 2000
Địa chỉ: Tổ O, khu phố B, phường P, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Chu Tiến H, sinh năm 1999
Địa chỉ: Tổ I, khu phố X, phường P, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Như T trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Chu Tiến H tự nguyện tìm hiểu, tổ chức đám cưới vào ngày 02 tháng 10 năm 2019, đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vào năm 2019.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại phường P, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, mẫu thuẫn với gia đình chồng; vì không có tiếng nói chung nên bà và ông H không ngồi lại hòa giải. Gia đình hai bên đều biết mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, vì không còn tình cảm nên bà và ông H ly thân với đầu năm 2022 cho đến nay. Từ khi ly thân đến nay bà và ông H không ai mong muốn hàn gắn hôn nhân.
Nay nhận thấy mục đích chung sống với ông H không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết như sau:
- Về tình cảm: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Chu Tiến H.
- Về con chung: Có 02 con chung là cháu Chu Lê Hải V, sinh ngày 27/6/2019 và cháu Chu Lê Bảo M, sinh ngày 29/11/2021. Khi ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con chung đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Chu Tiến H vắng mặt không cung cấp ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Như T.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý và giải quyết vụ việc trên là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định của pháp luật.
Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình, còn bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ và lời khai có trong hồ vụ án cũng như sự trình bày của bà T tại Phiên tòa, xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông H là có thật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
-Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi con chung, bà T không yêu cầu ông H không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Căn cứ theo nội dung Đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, bị đơn có địa chỉ tại phường Tân Phước, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên xác định vụ việc giải quyết trên thuộc loại quan hệ về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về giải quyết vắng mặt bị đơn: Đối với ông Chu Tiến H đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Nội dung giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Như T và ông Chu Tiến H đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vào ngày 02/10/2019, nên hôn nhân giữa bà T và ông H là hợp pháp.
Theo bà T trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách sống, ông H không thấu hiểu bà nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng.
Mặc dù đây chỉ là lời khai một phía từ bà Tiên, không được ông H xác nhận, nhưng suốt quá trình tố tụng ông H biết bà T khởi kiện ly hôn tại Tòa, Tòa án đã triệu tập ông H nhiều lần, nhưng ông không đến cũng như không cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà Tiên, điều này thể hiện ông H không có thiện chí hàn gắn hôn nhân với bà T .
Nhận thấy, mẫu thuẫn giữa bà T và ông H là trầm trọng, hôn nhân không thể hàn gắn. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy mục đích hôn nhân giữa bà T và ông H không đạt được cần chấp nhận yêu cầu của ly hôn của bà T .
Về con chung:
Giữa bà T và ông H có 02 con chung là cháu Chu Lê Hải V, sinh ngày 27/6/2019 và cháu Chu Lê Bảo M, sinh ngày 29/11/2021.
Khi ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con chung đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Ông H không có ý kiến về con chung. Cháu Bảo V hiện dưới 36 tháng tuổi, cả hai cháu đều đang ở trực tiếp với bà T từ khi bà T và ông H ly thân cho đến nay.
Từ những phân tích đánh giá như trên, xét thấy giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi) là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Bà T và ông H được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Như T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Như T được ly hôn với ông Chu Tiến H.
- Về con chung: Căn cứ theo nguyện vọng của bà T nay giao cháu Chu Lê Hải V, sinh ngày 27/6/2019 và cháu Chu Lê Bảo M, sinh ngày 29/11/2021 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Buộc ông Chu Tiến H phải giao Bảo V và Hải M cho bà Lê Thị Như T trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị Như T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006464 ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Như vậy, bà T đã nộp đủ tiền án phí.
3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm (riêng đối với người vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu; - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Chi cục THADS TX Phú Mỹ; - Ủy ban nhân dân phường P; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hồng Thái |