vanban.org

Bản án 32/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Ngọc Q. Bà Lê Ngọc Q được ly hôn với ông Trương Thanh P.

Về nuôi con chung: Giao con chung tên Trương Kim Ch, sinh ngày 28/10/2020 cho ông Trương Thanh P tiếp tục nuôi dưỡng. Bà Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Ngọc Q. Bà Lê Ngọc Q được ly hôn với ông Trương Thanh P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15-3- 2023
Về việc tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Chi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Châu Hoàng Huy

Ông Lưu Xuân Vĩnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Duy – Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 407/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc Q, sinh năm: 1996 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Cái Bát, xã Tân Hưng Tây , huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Trương Thanh P, sinh năm: 1997 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 1, xã Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Lê Ngọc Q trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Trương Thanh P tự nguyện làm đám cưới, chung sống với nhau năm 2019 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Sau khi chung sống vợ chồng có một con chung nhưng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, bất đồng ý kiến trong sinh hoạt hàng ngày, vợ chồng không có tiếng nói chung và không tôn trọng nhường nhịn nhau nên thường xuyên cải nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt không thể hàn gắn nên đã ly thân từ tháng 7 năm 2022. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Trương Thanh P.

Về con chung: Có một con chung tên Trương Kim Ch, sinh ngày 28/10/2020 hiện sống với ông P. Sau khi ly hôn bà đống ý giao con chung cho ông P nuôi dưỡng, bà yêu cầu được quyền thăm nom con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trương Thanh P đúng theo quy định pháp luật nhưng ông P không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh phát biểu:

Về thủ tục tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Ngọc Q đối với ông Trương Thanh P; giao con chung tên Trương Kim Ch cho ông Trương Thanh P tiếp tục nuôi dưỡng; về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét; án phí các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng, quan hệ tranh chấp: Bà Lê Ngọc Q yêu cầu được ly hôn với ông Trương Thanh P tranh chấp được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Q yêu cầu xin vắng mặt, ông P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Q, ông P theo quy định.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Ngọc Q và ông Trương Thanh P làm đám cưới chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 2018 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau theo quy định nên quan hệ hôn nhân của bà Q và ông P là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Bà Q yêu cầu ly hôn với ông P vì bà Q xác định vợ chồng chung sống không hạnh phúc, bất đồng ý kiến trong sinh hoạt hàng ngày, vợ chồng không có tiếng nói chung và không tôn trọng nhường nhịn nhau nên thường xuyên cải nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt không thể hàn gắn nên đã ly thân từ tháng 7 năm 2022. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông P để tham gia giải quyết vụ án nhưng ông P không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà Q và cũng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó cho thấy cuộc sống hôn nhân của bà Q và ông P không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Q ly hôn với ông P.

Về nuôi con chung: Bà Lê Ngọc Q và ông Trương Thanh P có một con chung tên Trương Kim Ch, sinh ngày 28/10/2020. Xét thấy, con chung đang do ông P nuôi dưỡng, bà Q đồng ý giao con chung cho ông P nuôi dưỡng, ông P cũng không có ý kiến gì đối với việc bà Q đồng ý giao con chung cho ông nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo quyền lợi con chung khi cha mẹ ly hôn Hội đồng xét xử giao con chung tên Trương Kim Ch cho ông P tiếp tục nuôi dưỡng. Bà Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con ông P không yêu cầu nên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q xác định không có, ông P không có ý kiến gì đối với việc bà Q xác định không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Ngọc Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Ngọc Q. Bà Lê Ngọc Q được ly hôn với ông Trương Thanh P.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Trương Kim Ch, sinh ngày 28/10/2020 cho ông Trương Thanh P tiếp tục nuôi dưỡng. Bà Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Bà Lê Ngọc Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Bà Lê Ngọc Q đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010877 ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ