- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? 1/. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N T H, cho chị N T H được ly hôn với anh N V B E.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 32/2023/HNGĐ -ST Ngày 04/4/2023. V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quách Thanh Tồn
Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Bà Dương Thị Tú Phương;
2/. Bà Võ Tuyết Kha.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Đoàn Vũ Loan - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 341/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐST- HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐST-DS ngày 16/3/2023, giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: Chị N T H, sinh năm 1986;
Địa chỉ: ấp 2, thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.
2/. Bị đơn: Anh N V B E, sinh năm 1985;
Địa chỉ: ấp 4, xã Phong Thạnh Tây B, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
(ChịH có đơn xin vắng mặt, anh Bé E vắng mặt lần 2)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị N T H có lời khai: Chị với anh N V B E làm đám cưới trên tinh thần tự nguyện vào năm 2012 còn ngày tháng thì không nhớ, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/8/2020 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh có 02 người con tên Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 17/8/2015 và Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh ngày 26/02/2018, hiện đang sống với chị. Về tài sản chung, nợ chung chị và anh không có tài sản chung, không nợ ai hoặc ai nợ chúng tôi. Nguyên nhân là trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, chị và anh đã hàn gắn nhiều lần nhưng không thành, hiện tại chị và anh không còn sống chung với nhau khoảng 01 năm nay. Nay chịH yêu cầu ly hôn với anh N V B E, yêu cầu được tiếp tục nuôi người con tên Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 17/8/2015 và Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh ngày 26/02/2018, không yêu cầu anh Bé E cấp dưỡng tiền nuôi con; về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh N V B E vắng mặt tại phiên tòa mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nên không có lời khai.
Đại diện của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long trình bày quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn là đúng theo quy định của luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chư chấp hành quy định của khoản 15, 16 Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Về hôn nhân: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chịH, cho chịH được ly hôn với anh N V B E.
+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao các cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 17/8/2015 và Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh ngày 26/02/2018 cho chịH chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; về cấp dưỡng nuôi con do chịH không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xE xét, giải quyết; Anh Bé E được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.
+ Về án phí: ChịH phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi Th luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị N T H kiện anh N V B E về việc Hôn nhân gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu và Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 28; Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. ChịH có đơn xin vắng mặt, anh Bé E vắng mặt lần 2 tại phiên xét xử nên việc xét xử vắng mặt chịH, anh Bé E là phù hợp với quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: chị N T H xác định chị với anh N V B E làm đám cưới trên tinh thần tự nguyện vào năm 2012 còn ngày tháng thì không nhớ, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/8/2020 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Tại giấy đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, thể hiện chị N T H và anh N V B E đăng ký kết hôn vào ngày 14/8/2020. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chịH và anh Bé E được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; nay chịH yêu cầu ly hôn với anh Bé E. Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn về hôn nhân của chịH và anh Bé E là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, theo lời khai của chịH thì chị và anh Bé E không còn sống chung với nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N T H, cho chịH được ly hôn với anh N V B E.
[3] Về con chung: Theo lời khai của chị N T H và theo giấy khai sinh chịH cung cấp thì chị và anh Bé E có 02 người con tên Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 17/8/2015 và Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh ngày 26/02/2018, đang sống với chịH và chịH có yêu cầu nuôi 02 người con, không yêu cầu anh Bé E cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy, các cháu T, Th đang sống với chịH, cháu T có nguyện vọng sống với chịH, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao các cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 17/8/2015 và Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh ngày 26/02/2018 cho chịH chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; về cấp dưỡng nuôi con do chịH không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xE xét, giải quyết; Anh Bé E được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Theo lời khai của chịH thì chị và anh Bé E không có tài sản chung, không nợ ai hoặc ai nợ chị và anh; chịH không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xE xét giải quyết.
[5] Về án phí xét xử hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị N T H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35 và Điều 39 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N T H, cho chị N T H được ly hôn với anh N V B E.
2/. Về con chung: tiếp tục giao cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 17/8/2015 và Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh ngày 26/02/2018 cho chịH chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; về cấp dưỡng nuôi con do chịH không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xE xét, giải quyết; Anh N V B E được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.
3/. Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xE xét giải quyết.
4/. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc chị N T H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chịH đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005457 ngày 26 tháng 10 năm 2022 được chuyển thu án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long. Anh N V B E không phải nộp án phí.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa T thi hành án theo Điều 6, quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a và 7b; tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm dân sự công khai vắng mặt các đương sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật. Nơi Nhận:
- TAND tỉnh Bạc Liêu;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện Phước Long;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- Đương sự;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Lưu. Quách Thanh Tồn
Quách Thanh Tồn