vanban.org

Bản án 32/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về Hôn nhân: Bà Vũ Anh M được ly hôn với ông Phạm Văn P.

Về con chung: Bà Vũ Anh M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là tên Phạm Vũ Xuân Á, sinh ngày 11/10/2022, hiện đang ở với bà M. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Phạm Văn P phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 900.000 (chín trăm ngàn) đồng, thời gian cấp dưỡng tình từ tháng 11/2023 đến khi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Anh M t/c ly hôn Phạm Văn P"
  • Tòa quyết gì? Về Hôn nhân: Bà Vũ Anh M được ly hôn với ông Phạm Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN M

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LA
Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13-11-2023
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh L1.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị L2.

2. Ông Trần Khánh H.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Q – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện M.

Trong ngày 13 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh LA xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 102/2023/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐST- HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Vũ Anh M, sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện M, tỉnh LA.

Bị đơn: Ông Phạm Văn P, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện M, tỉnh LA.

Bà M có mặt; ông P vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời trình bày trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Vũ Anh M trình bày:

Bà Vũ A M và ông Phạm Văn P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang năm 2015. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến khi sinh con thì phát sinh nhiều mâu thuẫn về nhiều mặt, thường xuyên bất đồng quan điểm. Nguyên nhân là ông P không lo làm ăn. Bà M phát hiện ông P có biểu hiện quan hệ tình cảm với người khác. Mâu thuẫn xảy ra thời gian dài, hai bên không giải quyết được. Bà M xét thấy vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, hai bên không còn tình cảm với nhau nên bà M yêu cầu được ly hôn.

Về con chung, có một con chung tên Phạm Vũ Xuân Á, sinh ngày 11/10/2022, hiện đang sống với bà M, bà M yêu cầu nuôi dưỡng, bà M yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà M xác định không có.

Bà M trình bày việc ông P không đồng ý tham gia tố tụng. Bà M có đơn xin không tiến hành hòa giải.

Tại phiên tòa, bà M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bà M đồng ý công khai bản án trên cổng thông tin điện tử Tòa án.

Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông P không đến Tòa án, không có thể hiện ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Vũ Anh M có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn P nên quan hệ pháp luật trong vụ án là ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ông P cư trú tại ấp H, xã B, huyện M, tỉnh LA nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

. Về việc giải quyết vắng mặt ông P: Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, ông P vắng mặt nên căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án vắng mặt ông P.

. Về hôn nhân: Bà Vũ Anh M và ông Phạm Văn P xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp, áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình để giải quyết.

. Về yêu cầu khởi kiện của bà M:

. Về yêu cầu ly hôn: Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông P không đến Tòa án mà không có lý do, thể hiện ý chí ông P không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Bà M xác định không còn tình cảm với ông P và cương quyết ly hôn. Điều này thể hiện mâu thuẫn giữa bà M và ông P là có thật và trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ quy định tại Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M đối với ông P.

. Về con chung: Bà M và ông P có một con chung tên Phạm Vũ Xuân Á, sinh ngày 11/10/2022, hiện đang sống với bà M. Xét thấy, con chung dưới 36 tháng tuổi, hiện đang ở với bà M nên giao bà M trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà M.

. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà M yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp quy định pháp luật nhưng mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng mỗi tháng là cao hơn mức lương tối thiểu hiện hành nên điều chỉnh lại. Ông Phạm Văn P phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 900.000 (chín trăm ngàn) đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 11/2023 đến khi con chung đủ 18 tuổi.

. Về tài sản chung, nợ chung: Bà M trình bày không có, ông P không có ý kiến, cũng không có ai yêu cầu về nợ chung nên Tòa án tạm thời ghi nhận ý kiến bà M về việc không có tài sản chung, nợ chung.

. Về án phí: Bà Vũ Anh M phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Ông Phạm Văn P phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, điểm a, đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Vũ Anh M đối với ông Phạm Văn P.

1. Về Hôn nhân: Bà Vũ Anh M được ly hôn với ông Phạm Văn P.

2. Về con chung: Bà Vũ Anh M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là tên Phạm Vũ Xuân Á, sinh ngày 11/10/2022, hiện đang ở với bà M.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Phạm Văn P phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 900.000 (chín trăm ngàn) đồng, thời gian cấp dưỡng tình từ tháng 11/2023 đến khi con chung đủ 18 tuổi.

4. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; cấp dưỡng nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định tại các Điều 69, 70, 71, 72, 81, 82, 83, 84, 85, 110,116 Luật Hôn nhân và Gia đình.

5. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án ghi nhận tạm thời ý kiến của bà Vũ Anh M về việc không có tài sản chung, nợ chung.

6. Về án phí:

6.1. Bà Vũ Anh M phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, chuyển số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí bà M đã nộp theo biên lai số 0008638 ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M sang thi hành án phí, bà M đã nộp đủ án phí.

6.2. Ông Phạm Văn P phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.

7. Bà Vũ Anh M có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Văn P có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tòa án niêm yết bản án.

8. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ