- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN AN HÔN NHÂN GIA ĐÌNH THẮM- TRUNG LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị T được ly hôn với anh Trần Quốc T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/9/2023 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Trọng Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Minh; ông Phạm Ngạch.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Huơng Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 28/9/2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 49/2023/TLST-HNGĐ ngày 27/7/2023 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/8/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2023/QĐST-DS ngày 13/9/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị T; sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh H. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Quốc T; sinh năm: 1995; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện H, tỉnh H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 22/6/2023, bản tự khai ngày 15/8/2023 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phan Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị Phan Thị T và anh Trần Quốc T đăng ký kết hôn vào ngày 02/5/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Phú Gia, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, lý do mâu thuẫn là vì vợ chồng không cùng chung quan điểm sống, anh T chơi bời, cá độ bóng đá, nợ nần chồng chất. Chị đã cố gắng nhẫn nhịn, hai bên gia đình nội ngoại cũng khuyên nhủ anh T nhưng anh T không thay đổi, khiến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên vợ chồng ly thân nhau từ đầu năm 30/4/2022 cho đến nay. Nay vì tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên chị T làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Quốc T.
Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp: Giấy chứng nhận kết hôn, bản sao chứng minh nhân dân; xác nhận thông tin nơi cư trú; biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án; bản tự khai; đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, đề ngày 20/8/2023.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh T nhưng anh T không đến Tòa án để làm việc.
Ngày 18/8/2023, Tòa án về trực tiếp tại Công an xã Phú Gia, huyện Hương Khê để tiến hành xác minh nơi cư trú của anh Trần Quốc T, tại buổi làm việc với Trưởng Công an xã Phú Gia, huyện Hương Khê cung cấp thông tin: Công dân Trần Quốc T, sinh ngày 02/9/1995, là công dân của địa phương, có đăng ký hộ khẩu tại thôn P, xã P, huyện H, ngoài ra anh T không đăng ký tạm trú ở bất kỳ địa phương nào khác.
Cùng ngày, Tòa án phối hợp với chính quyền địa phương đến trực tiếp tại nhà anh T để lấy lời khai, tại các buổi làm việc ông Trần Kim V (Cha đẻ của anh T) cung cấp thông tin: Gia đình ông và anh T biết việc chị T làm đơn xin ly hôn. Về nội dung yêu cầu giải quyết ly hôn của chị T thì gia đình và anh T có ý kiến như sau: Chị T và anh T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn và được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Trong quá trình chung sống giữa anh T và chị T thường xuyên bất đồng quan điểm sống, dẫn đến nhiều mâu thuẫn khác không thể hòa giải được nên vợ chồng sống ly thân nhau từ lâu. Nay chị T làm đơn xin ly hôn thì do tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng cũng không có con chung và tài sản chung nên anh T đồng ý ly hôn. Ngoài ra anh T không có ý kiến gì khác.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, kiểm sát việc tuân theo pháp luật có ý kiến như sau:
Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn không thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, đối chiếu với các quy định của pháp luật có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chị T, anh T trên cơ sở tự do tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị T, anh T nảy sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau, mâu thuẫn trở nên trầm trọng nên đề nghị xử cho chị T được ly hôn anh T; về con chung và tài sản chung: Chị T, anh T không có con chung và tài sản chung nên đề nghị Tòa án không xem xét; về án phí: Đề nghị HĐXX buộc nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn chị Phan Thị T có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hương Khê giải quyết ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Quốc T có địa chỉ cư trú tại thôn P, xã P, huyện H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và thông báo hòa giải cho các bên đương sự. Nguyên đơn chị T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải lần 2, bị đơn anh T không có mặt tại Tòa án để tham gia các buổi hòa giải. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Anh Trần Quốc T và chị Phan Thị T trên cơ sở tự do, tự nguyện tìm hiểu, tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Gia, huyện Hương Khê theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 02/5/2019, nên xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị T và anh T do không cùng quan điểm sống nên giữa anh, chị nảy sinh mâu thuẫn, cãi vã, chửi bới, thậm chí đánh đập nhau, chị T nhiều lần nhẫn nhịn để vợ chồng đoàn tụ nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân nhau từ đầu năm 2022 cho đến nay. Quá trình giải quyết tại Tòa án chị T nhất quyết xin ly hôn. Điều này chứng tỏ hôn nhân của chị T, anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị Thắm, đồng ý cho chị T được ly hôn anh T.
Về con chung và tài sản chung: Các bên đương sự không có con chung và tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Phan Thị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị T được ly hôn với anh Trần Quốc T.
2. Về án phí: Chị Phan Thị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn, chị đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0007934 ngày 26/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê, nay không phải nộp nữa.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; anh Trần Quốc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Hương Khê; - UBND xã Phú Gia; - Chi cục THADS Hương Khê; - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - Lưu hồ sơ +VP-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Trọng Hùng |