vanban.org

Bản án 32/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Trúc G, xử cho bà Nguyễn Thị Trúc G với ông Lục Anh T ly hôn.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Quốc H sinh ngày 28/5/2017 cho bà Nguyễn Thị Trúc G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến ngày con chung thành niên. Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu mức cấp dưỡng được thực hiện th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Trúc G, xử cho bà Nguyễn Thị Trúc G với ông Lục Anh T ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-3-2023.
V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng Diễm.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Văn Thắng.

- Bà Phạm Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Lan Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Bảng – Kiểm sát viên.

Ngày 31/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 593/2022/TLST-HNGĐ ngày 20/12/2022 về: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/02/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc G sinh năm 1984; trú tại: Số 27, đường L, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ liên hệ: Số 73, đường H, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Lục Anh T sinh năm 1972; trú tại: Số 27, đường L, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đang chấp hành án tại Trại giam H (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trúc G:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà với ông Lục Anh T kết hôn năm 2018, đăng ký tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng bà kết hôn là tự nguyện, tuy nhiên vợ chồng không tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại số 27, đường L, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông T không lo làm ăn, cờ bạc, đánh đập vợ con, vợ chồng không chung sống với nhau từ tháng 4/2020. Ông T đang chấp hành án tại Trại giam H từ tháng 8/2020 đến nay liên quan đến ma tuý. Nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung tên Nguyễn Quốc H sinh ngày 28/5/2017. Hiện nay con chung đang sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con chung cho đến ngày con chung thành niên.

- Về cấp dưỡng: Bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của bị đơn ông Lục Anh T:

Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 23/02/2023 tại Trại giam H, bị đơn ông T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà G kết hôn năm 2018, không tổ chức lễ cưới, chỉ làm cơm mời gia đình hai bên. Sau khi cưới vợ chồng ông ở gần nhà mẹ chồng. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông phải đi chấp hành án về việc kinh doanh trái phép chấ ma tuý (án 09 năm tù giam). Nay vợ ông xin ly hôn ông xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên ông không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Quốc H sinh ngày 28/5/2017. Hiện nay con chung đang ở với bà G. Khi ly hôn ông đồng ý giao con chung cho bà G nuôi dưỡng cho đến ngày con chung thành niên.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nguyên đơn bà G có đơn yêu cầu không hoà giải, còn ông T đang chấp hành án tại Trại gia H nên Toà án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không hoà giải. Toà đã thông báo về tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn, bị đơn giao nộp và Toà án thu thập cho nguyên đơn, bị đơn được biết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán đã thực hiện việc tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà G, xử cho bà G với ông T ly hôn; giao bà G nuôi con chung tên Huy cho đến ngày con chung thành niên; ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc “Tranh chấp ly hôn” giữa nguyên đơn bà G với bị đơn ông T. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Tại phiên tòa, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà G với ông Lục Anh T kết hôn năm 2018, đăng ký tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng bà kết hôn là tự nguyện, tuy nhiên vợ chồng không tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại số 27, đường L, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn. Theo bà G, nguyên nhân mâu thuẫn do ông T không lo làm ăn, cờ bạc, đánh đập vợ con, vợ chồng không chung sống với nhau từ tháng 4/2020. Ông T đang chấp hành án tại Trại giam H từ tháng 8/2020 đến nay liên quan đến ma tuý. Nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông T. Ông T không đồng ý ly hôn với bà G. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà G với ông T đã trầm trọng, kéo dài, trong thời gian vợ chồng chung sống ông T đã vi phạm pháp luật bị xử lý hình sự, không có trách nhiệm với gia đình vợ con, hiện tại bà G với ông T đã không còn chung sống với nhau, bà G xác định không còn tình cảm với ông T, không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của bà G về việc ly hôn với ông T.

- Về con chung: Bà G với ông T không có 01 con chung tên Nguyễn Quốc H sinh ngày 28/5/2017. Hiện nay con chung đang sống với bà G. Khi ly hôn bà G yêu cầu được nuôi con chung cho đến ngày con chung thành niên. Xét thấy, hiện nay cháu Huy đang do bà G nuôi dưỡng, cháu còn nhỏ, ông T đang chấp hành án, không đủ điều kiện để nuôi con do đó để đảm bảo cho cháu có cuộc sống ổn định cũng như điều kiện để cháu phát triển mọi mặt về thể chất và tinh thần nên giao cháu Huy cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng cho đến ngày thành niên là phù hợp.

- Về cấp dưỡng: Bà G không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà G với ông T không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bà G phải chịu 300.000 đồng án phí về yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự 2008;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Trúc G, xử cho bà Nguyễn Thị Trúc G với ông Lục Anh T ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Quốc H sinh ngày 28/5/2017 cho bà Nguyễn Thị Trúc G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến ngày con chung thành niên.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về cấp dưỡng: Ông Lục Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

4. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Trúc G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, bà Nguyễn Thị Trúc G đã dự nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008482 ngày 19/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng được chuyển thu.

5. Về quyền kháng cáo: Bà G có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông T vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ