- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Lê Thành T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21-4-2023 V/v ly hôn giữa bà N và ông T |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thủy Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng.
2. Ông Nguyễn Văn Út.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.
Ngày 21 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 về Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm: 1984 (có mặt);
Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Ông Lê Thành T, sinh năm: 1978 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị N trình bày:
Bà N và ông T tổ chức lễ cưới vào năm 2006, có thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã P và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 47, quyển số 01, ngày 17/7/2007. Sau khi cưới, vợ chồng bà về sinh sống trong hộ gia đình cha mẹ chồng. Sau khi sinh con, bà về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 02 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng trong đời sống, sinh hoạt, vợ chồng không còn hợp nhau dẫn đến thường xuyên gây cãi, không cải thiện được. Vợ chồng ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Kể từ năm 2020 thì ông T cũng bỏ mặc bà tự lo cho các con, không quan tâm gì đến con chung của hai vợ chồng. Bà N nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nữa, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu ly hôn với ông T.
Về nuôi con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Lê Huỳnh Ngọc X và Lê Huỳnh Ngọc B cùng sinh ngày 11/5/2007. Hiện nay, 02 con đang sống chung với bà N. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: bà N xác định bà và ông T không có tài sản chung và không có nợ chung.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Lê Thành T. Ông T không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của bà N, không nộp tài liệu, chứng cứ và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về thủ tục tố tụng:
Bà Huỳnh Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Thành T, ông T có nơi cư trú tại xã P, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Ông Lê Thành T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ông T.
Về nội dung tranh chấp:
Về hôn nhân: bà Huỳnh Thị N và ông Lê Thành T có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 47, quyển số 01, ngày 17/7/2007, nên xác định hôn nhân giữa bà N và ông T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà N trình bày, sau khi cưới, vợ chồng bà về sinh sống trong hộ gia đình cha mẹ chồng. Sau khi sinh con, bà về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 02 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng trong đời sống, sinh hoạt, vợ chồng không còn hợp nhau dẫn đến thường xuyên gây cãi, không cải thiện được. Vợ chồng ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Kể từ năm 2020 thì ông T cũng bỏ mặc bà tự lo cho các con, không quan tâm gì đến con chung của hai vợ chồng. Đối với ông T, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T không có ý kiến phản hồi và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án. Điều này chứng tỏ ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà N. Tại phiên tòa, bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông T.
Về nuôi con chung: bà N và ông T chung sống có 02 con chung tên Lê Huỳnh Ngọc X và Lê Huỳnh Ngọc B cùng sinh ngày 11/5/2007. Bà N yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung. Ông T không có ý kiến phản hồi đối với vấn đề này. Hội đồng xét xử xét thấy, 02 con chung Lê Huỳnh Ngọc X và Lê Huỳnh Ngọc B hiện đang sống chung với bà N, cuộc sống đã ổn định và 02 con chung có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với bà N. Điều này phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N, giao 02 con chung cho bà N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con, bà N không có yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: bà N trình bày bà và ông T không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Lê Thành T.
1. Về hôn nhân: bà Huỳnh Thị N được ly hôn với ông Lê Thành T.
2. Về nuôi con chung: giao cho bà Huỳnh Thị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Huỳnh Ngọc X và Lê Huỳnh Ngọc B cùng sinh ngày 11/5/2007. Ông Lê Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: bà Huỳnh Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai thu số 0004970 ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, bà N đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện C; (1) - THADS huyện C; (1) - UBND xã P; - Các đương sự; (1) - Lưu hồ sơ, lưu án văn; (2) (2) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (1) THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thủy Tiên |