vanban.org

Bản án 32/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị T đối với anh Huỳnh Tấn P về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

Về hôn nhân: cho chị Dương Thị T ly hôn anh Huỳnh Tấn P. Về nuôi con chung: anh Huỳnh Tấn P có trách nhiệm giao con chung tên Huỳnh Thị Mỹ A, sinh ngày 02 tháng 10 năm 2019 cho chị Dương Thị T trực tiếp nuôi. Chị Dương Thị T không yêu cầu anh Huỳnh Tấn P cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con giữa chị Dương Thị T và anh Huỳnh Tấn P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị T đối với anh Huỳnh Tấn P về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 03-7-2023
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Xuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ;

Ông Phạm Văn Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị T, sinh năm 1982; cư trú tại: tổ 4, ấp C, xã T II, huyện B, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Tấn P, sinh năm 1980; cư trú tại: tổ 4, ấp C, xã T II, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 23 tháng 3 năm 2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Dương Thị T trình bày:

Về hôn nhân: chị T và anh P bắt đầu chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 4 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã T II, huyện B, tỉnh Bình Dương; hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống anh chị có xảy ra những mâu thuẫn. Anh P hay ghen tuông vô cớ, không thông cảm cho giờ giấc công việc của chị T nên anh chị thường cãi nhau. Anh P còn yêu cầu chị T cùng về quê anh P ở tỉnh An Giang sinh sống. Chị T không đồng ý nên anh P giận bỏ đi 02 lần, lần thứ nhất vào cuối năm 2018, anh P đi được 01 tháng thì quay về; lần thứ hai anh P bỏ đi từ tháng 11 năm 2022, anh chị ly thân đến nay. Nay chị T không còn yêu thương anh P và không muốn tiếp tục chung sống với anh P nên chị T yêu cầu được ly hôn.

Về nuôi con chung: quá trình chung sống, chị T và anh P có một con chung tên Huỳnh Thị Mỹ A, sinh ngày 02 tháng 10 năm 2019; cháu A hiện đang sống cùng chị T. Chị T yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng. Chị T hiện làm công nhân, lương mỗi tháng khoảng 10.000.000 đồng.

Về chia tài sản và nợ chung: chị T không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Huỳnh Tấn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng anh P đều vắng mặt không lý do. Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh P.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án: quá trình giải quyết vụ án, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng nhận định:

Về tố tụng: bị đơn anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh P.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Về hôn nhân: hôn nhân của chị T và anh P là hôn nhân hợp pháp. Chị T khai nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do anh P hay ghen tuông vô cớ; anh P còn yêu cầu chị T cùng về quê anh P ở tỉnh An Giang sinh sống, chị T không đồng ý thì anh P giận bỏ đi 02 lần. Chị T và anh P đã không còn yêu thương, chăm sóc nhau và ly thân từ tháng 11 năm 2022 đến nay. Vì vậy, chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh P theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét thấy, chị T và anh P là vợ chồng nhưng không yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và không sống chung với nhau là không giữ gìn tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh P bỏ mặc không tham gia tố tụng, không trình bày ý kiến tại Tòa đối với yêu cầu ly hôn của chị T. Nhận thấy hôn nhân của chị T và anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận, quyết định cho chị T và anh P ly hôn.

Về nuôi con chung: chị T và anh P có một con chung tên Huỳnh Thị Mỹ A, chị T yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng. Xét cháu A hiện gần 04 tuổi và đang sống cùng chị T; công việc, thu nhập hàng tháng của chị T ổn định. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, anh P có trách nhiệm giao cháu A cho chị T trực tiếp nuôi theo quy định khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và giải quyết về cấp dưỡng khi có yêu cầu theo quy định tại Điều 84, Điều 107 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về chia tài sản và nợ chung: chị T và anh P không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Về án phí: chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 84, Điều 107 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị T đối với anh Huỳnh Tấn P về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

Về hôn nhân: cho chị Dương Thị T ly hôn anh Huỳnh Tấn P.

Về nuôi con chung: anh Huỳnh Tấn P có trách nhiệm giao con chung tên Huỳnh Thị Mỹ A, sinh ngày 02 tháng 10 năm 2019 cho chị Dương Thị T trực tiếp nuôi. Chị Dương Thị T không yêu cầu anh Huỳnh Tấn P cấp dưỡng nuôi con.

Anh Huỳnh Tấn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và giải quyết về cấp dưỡng khi có yêu cầu.

Về chia tài sản và nợ chung: chị Dương Thị T và anh Huỳnh Tấn P không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: chị Dương Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Dương Thị T đã nộp theo biên lai số AA/2021/0009742 ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Dương. Chị Dương Thị T đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ