vanban.org

Bản án 32/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 08/11/2015 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D.

Anh T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về án phí: Anh Nguyễn Đình T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST. Trả lại cho chị Đinh Thị D số tiền đã nộp tạm ứng án phí DSST là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai số … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 08/11/2015 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20/4/2023
V/v: “Thay đổi người trực tiếp nuôi con
sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Hồng Xuân

2. Ông Bùi Văn Hòa

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 289/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 về việc: “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị D; Sinh năm 1992

HKTT và địa chỉ hiện nay: Thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

-Bị đơn: Anh Nguyễn Đình T; Sinh năm: 1992

HKTT: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 14/12/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Đinh Thị D trình bày:

Trước đây, chị và anh Nguyễn Đình T đã giải quyết việc ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành. Theo Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án số: 64/2021/QĐST-HNGĐ ngày 29/4/2021 của TAND huyện Thạch Thành đã giải quyết như sau: Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đình T thuận tình ly hôn; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 08/11/2015 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T. Tuy nhiên, từ sau khi ly hôn anh T là người không có trách nhiệm trong việc nuôi con, thường xuyên tụ tập bạn bè để uống rượu, để con cho mẹ già đã hơn 70 tuổi chăm sóc. Hiện nay, anh T đang bị tạm giam tại công an huyện Thạch Thành về hành vi cố ý gây thương tích. Vì vậy, chị làm đơn này yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thùy L và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/01/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Nguyễn Đình T trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Đinh Thị D đã ly hôn từ năm 2021. Sau khi ly hôn, anh là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 08/11/2015. Nay chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, anh không đồng ý với yêu cầu của chị D. Mặc dù anh đang bị tạm giam nhưng con anh sẽ do mẹ anh cũng như các anh, chị của anh nuôi dưỡng và đưa, đón cháu đi học. Nếu sau này anh phải đi chấp hành án phạt tù thì anh sẽ gửi con lại cho mẹ và anh trai (ở gần nhà) hỗ trợ anh trong việc nuôi con. Anh chỉ đồng ý cho chị D thăm con và những ngày cuối tuần, còn không đồng ý để chị D được trực tiếp nuôi con.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 58, 71, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình: Xử giao cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 08/11/2015 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng nhưng VKS được biết.

. Về nội dung: Theo Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án số: 64/2021/ QĐST-HNGĐ ngày 29/4/2021 của TAND huyện Thạch Thành.

Về hôn nhân: Chị Đinh Thị D và anh Nguyễn Đình T thuận tình ly hôn;

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 08/11/2015 chị anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T. Tuy nhiên, từ sau khi ly hôn thì anh T thiếu trách nhiệm trong việc nuôi con, thường xuyên tụ tập bạn bè để uống rượu, không chăm sóc cho con và thường xuyên để cho mẹ già đã hơn 70 tuổi phải nuôi cháu L. Bản thân anh T do say rượu nên đã có hành vi gây thương tích cho chính anh trai của mình và đã bị khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” sau đó chuyển tội danh sang tội “Giết người” và đang bị tạm giam từ tháng 12/2022 đến nay. Bản thân cháu L có nguyện vọng được ở với bố và bà nội. Tuy nhiên, HĐXX nhận thấy anh T là người có lối sống không lành mạnh, không làm tròn trách nhiệm của người được giao trực tiếp nuôi con, nếu cháu L tiếp tục sống với anh T sẽ ảnh hưởng không tốt đến thể lực, trí lực cũng như sự phát triển bình thường của cháu. Mặt khác bà nội cháu đã rất già yếu, không còn trong độ tuổi lao động; trách nhiệm nuôi con là của bố mẹ. Hiện nay anh T không thể trực tiếp nuôi con, trong khi chị D đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng cháu L. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của trẻ em, sự phát triển bình thường của cháu L, nên chấp nhận yêu cầu của chị D, giao cháu Nguyễn Thùy L cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D.

. Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, trả lại cho chị D số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 58, 71, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 1, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.

1. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 08/11/2015 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D.

Anh T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Đình T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST. Trả lại cho chị Đinh Thị D số tiền đã nộp tạm ứng án phí DSST là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai số AA/2021/0007902 ngày 15/12/2022.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt anh Nguyễn Đình T, vắng mặt chị Đinh Thị D. Anh T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị D có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ