vanban.org

Bản án 32/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Văn T đối với chị Vi Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Lương Văn T đối với chị Vi Thị L. Về con chung: Giao cháu Lương Thị K, sinh ngày 01-8-2005 cho anh Lương Văn T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Lương Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Văn T đối với chị Vi Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-6-2023
“V/v Không công nhận quan hệ vợ
chồng và tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Công Tài

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Minh Hải và bà Võ Thị Thanh Huệ

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thuý Nga – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên toà: Ông Thái Lê Anh Tuấn - Kiểm Sát viên.

Hôm nay, ngày 28 tháng 6 năm 2023 tại phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 101/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023, về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng và tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12-6-2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lương Văn T, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Thôn A, xã Nâm N, huyện Đắk S, tinh Đắk Nông.̉

Bi ̣ đơn: Chị Vi Thị L, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Thôn A, xã Nâm N, huyện Đắk S, tinh Đắk Nông.̉

(Các đương sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án anh Lương Văn T trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh T chung sống với chị Vi Thị L từ năm 1999 là hoàn toàn tự nguyện, nhưng không đi đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình hai bên không hợp, vợ chồng thường xẩy ra cãi nhau, vợ chồng không có sự tôn trọng nhau, không quan tâm gia đình, anh T với chị L đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay. Nay anh T cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài được nên anh T đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh T với chị Vi Thị L.

Về con chung: Trong thời gian chung sống anh T và chị Vi Thị L sinh được 02 con chung là Lương Văn Th, sinh ngày 10/01/2000 và Lương Thị K, sinh ngày 01/8/2005. Hiện cháu Lương Văn Th đã đủ tuổi trưởng thành, lập gia đình và ở riêng nên không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu Lương Thị K, hiện đang ở cùng với chị L chăm sóc nuôi dưỡng, tại thôn A, xã Nâm N, huyện Đắk S, tinh Đắk Nông. Naỷ nguyện vọng anh T là xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành theo nguyện vọng của cháu K.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Lương Văn T không yêu cầu giải quyết.

Về các khoản nợ chung, nợ riêng: Không có.

- Trong quá trình giải quyết vụ án chị Vi Thị L trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Lương Văn T sống chung với nhau từ năm 1999 là hoàn toàn tự nguyện, không đi đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình hai bên không hợp, vợ chồng thường xẩy ra cãi nhau, vợ chồng không có sự tôn trọng nhau, không quan tâm gia đình, chị L với anh Lương Văn T đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay, chị L cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài được. Nay anh Lương Văn T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk Song giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị với anh Lương Văn T thì chị L đồng ý.

Về con chung: Chị L với anh Lương Văn T sinh được 02 con chung là Lương Văn Th, sinh ngày 10/01/2000 và Lương Thị K, sinh ngày 01/8/2005. Hiện cháu Lương Văn Th đã đủ tuổi trưởng thành, đã lập gia đình và ở riêng nên không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu Lương Thị K, hiện đang ở cùng với chị chăm sóc nuôi dưỡng, tại thôn A, xã Nâm N, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông. Nay nguyện vọng chị L là để cháu K cho anh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành theo nguyện vọng của cháu K.

Về cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về các khoản nợ chung, nợ riêng: Không có.

Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: anh Lương Văn T với chị Vi Thị L sống chung với nhau từ năm 2000 cho đến nay là trên cơ sở tự nguyện, nhưng không có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong thời gian chung sống anh T và chị L sống được thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân là do tính tình hai bên không hợp, vợ chồng thường xẩy ra cãi nhau, vợ chồng không có sự tôn trọng nhau, anh T và chị L đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay. Về con chung anh T và chị L sinh được 02 con chung là Lương Văn Th, sinh ngày 10/01/2000 và Lương Thị K, sinh ngày 01/8/2005. Hiện cháu Lương Văn Th đã đủ tuổi trưởng thành, đã lập gia đình và ở riêng nên không yêu cầu giải quyết. Đối với Lương Thị K hiện đang ở cùng với chị L tại thôn A, xã Nâm N, huyện Đắk S, tinh Đắk Nông và nguyện vọng của cháu xin được ở với cha. Quá̉ trình giải quyết anh T và chị L đã thỏa thuận được là anh T được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Lương Thị K đến tuổi trưởng thành và đều đề nghị Tòa án ghi nhận vào bản án.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14, Điều 53, Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Văn T đối với chị Vi Thị L. Về quan hệ nhôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Lương Văn T với chị Vi Thị L; về con chung: Giao con chung là Lương Thị K, sinh ngày 01/8/2005 cho anh Lương Văn T được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Về tài sản chung, nợ chung và cấp dưỡng nuôi con không có yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

NHẬN DỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là anh Lương Văn T có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song giải quyết việc không công nhận quan hệ vợ chồng và tranh chấp về nuôi con với chị Vi Thị L. Bị đơn là chị Vi Thị L có địa chỉ tại thôn A, xã Nâm N, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song; quan hệ pháp luật tranh chấp là “Không công nhận quan hệ vợ chồng và tranh chấp về nuôi con”.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Lương Văn T là nguyên đơn và chị Vi Thị L là bị đơn trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Anh T chung sống với chị Vi Thị L từ năm 1999 là hoàn toàn tự nguyện, nhưng không đi đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình hai bên không hợp, vợ chồng thường xẩy ra cãi nhau, vợ chồng không có sự tôn trọng nhau, không quan tâm gia đình, anh T với chị L đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay nên anh Lương Văn T khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ giữa anh T với chị L là vợ chồng.

Xét yêu cầu của anh T: Mặc dù sống với nhau kể từ năm 1999 cho đến nay, anh T với chị L có đủ điều kiện đi đăng ký kết hôn nhưng anh, chị vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định; điểm b mục 3 Nghị Quyết số: 35/2000/QH10 ngày 09-6-2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình, cụ thể: Nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ ngày 03-01-1987 đến ngày 01-01-2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm kể từ ngày 01-01-2001 đến ngày 01-01-2003. Từ sau ngày 01-01-2003 mà họ không đi đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng. Tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của luật này”. Như vậy, yêu cầu của anh T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[4]. Về con chung: anh T với chị L sinh được 02 con chung là Lương Văn Th, sinh ngày 10/01/2000 và Lương Thị K, sinh ngày 01/8/2005. Hiện cháu Lương Văn Th đã đủ tuổi trưởng thành, đã lập gia đình và ở riêng nên không yêu cầu giải quyết; Đối với cháu Lương Thị K, trong quá trình giải quyết vụ án anh T với chị L đã thỏa thuận được với nhau về việc nuôi con chung và nguyện vọng của cháu K là muốn được ở cùng với cha nên cần ghi nhận sự thỏa thuận của anh T với chị L, giao cháu Lương Thị K, sinh ngày 01/8/2005 cho anh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung, về nợ chung: Anh T với chị L không yêu cầu nên không đề cập giải giải quyết.

[6]. Về án phí: anh Lương Văn T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14, Điều 53, Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Văn T đối với chị Vi Thị L.

- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Lương Văn T đối với chị Vi Thị L.

- Về con chung: Giao cháu Lương Thị K, sinh ngày 01-8-2005 cho anh Lương Văn T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung, về nợ chung: anh Lương Văn T và chị Vi Thị L đều không yêu cầu nên không đề cập giải giải quyết.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc anh Lương Văn T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002301 ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông.

3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ