vanban.org

Bản án 32/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn B đối với bà Lê Thị Tuyết và ông Nguyễn Văn V về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Lê Thị Tuyết và ông Nguyễn Văn V liên đới trả cho ông Đặng Văn B tổng số tiền 63.000.000đ bao gồm 43.000.000đ tiền hụi và 20.000.000đ tiền vốn vay. Kể từ ngày ông Đặng Văn B có đơn yêu cầu thi hành án, thì bà Lê Thị Tuyết và ông Nguyễn Văn V phải liên đới chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Đằn Văn B - lê Thị T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn B đối với bà Lê Thị Tuyết và ông Nguyễn Văn V về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/DS-ST
Ngày: 28-4-2023
“V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Phong

2. Ông Trần Văn Nhị

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 244/2022/TLST-DS, ngày 30 tháng 01 năm 2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2023/QĐXXST-DS, ngày 12 tháng 4 năm 2023 giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Đặng Văn B, sinh năm 1957. Địa chỉ: ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị T sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị T sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Văn bản ủy quyền ngày 02/3/2023.

(ông B có mặt, Bà T ông V xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đặng Văn B trình bày: Bà T có tham gia hụi do ông B làm chủ, hụi hoa hồng cụ thể như sau:

- Dây hụi thứ 1: Hụi trị giá 3.000.000đ, khui ngày 15/9/2020 âm lịch, 01 tháng khui một lần, hụi gồm 22 phần, Bà T tham gia 01 phần, trong phiệu hụi tên Thúy (Gái) số thứ tự là 3, Bà T đã hốt hụi vào kỳ hụi thứ 3 ngày 15/12/2020 âm lịch, được số tiền 48.960.000đ, đã trừ tiền cò 1.500.000đ, ông B đã giao đủ tiền hụi cho Bà T. Sau khi hốt hụi Bà T không đóng hụi 04 kỳ hụi cuối số tiền 12.000.000đ, ông B đã đóng hụi thay cho Bà T 12.000.000đ, hụi đã mãn vào ngày 15/10/2022 âm lịch. Tuy nhiên tính đến ngày ông B nộp đơn khởi kiện thì dây hụi này Bà T còn nợ ông 03 kỳ số tiền 9.000.000đ, còn 01 kỳ khi nộp đơn chưa đến hạn nên ông B khởi kiện Bà T sau.

- Dây hụi thứ 2: Hụi trị giá 2.000.000đ, khui ngày 10/11/2020 dương lịch, 01 tháng khui một lần, hụi gồm 26 phần, Bà T tham gia 01 phần, trong phiêu hụi tên Thúy (Gái) số thứ tự là 16, Bà T đã hốt hụi vào kỳ hụi thứ 8 ngày 10/6/2021 dương lịch, được số tiền 42.260.000đ, đã trừ tiền cò 1.000.000đ, ông B đã giao đủ tiền hụi cho Bà T. Hụi có ngưng 03 kỳ do dịch covid. Sau khi hốt hụi Bà T không đóng hụi đầy đủ, tính đến ngày nộp đơn khởi kiện Bà T không đóng hụi 05 kỳ hụi số tiền 10.000.000đ, ông B đã đóng hụi thay cho Bà T 10.000.000đ, hụi chưa mãn, hụi mãng ngày 10/3/2023 dương lịch. Tính đến ngày nộp đơn khởi kiện dây hụi này Bà T còn nợ ông B 10.000.000đ.

Dây hụi thứ 3: Hụi trị giá 3.000.000đ, khui ngày 05/01/2022 âm lịch, 01 tháng khui một lần, hụi gồm 19 phần, Bà T tham gia 02 phần, trong phiêu hụi tên Thúy (Gái) số thứ tự là 12, 13, Bà T đã hốt hụi vào kỳ hụi thứ 3 ngày 05/3/2022 âm lịch, được số tiền 41.700.000đ, đã trừ tiền cò 1.500.000đ và hốt hụi vào kỳ hụi thứ 4 ngày 05/4/2022 âm lịch được số tiền 41.000.000đ, ông B đã giao đủ tiền hụi cho Bà T; Hụi đến ngày 05/7/2023 thì mãn. Sau khi hốt hụi thì Bà T không đóng hụi, tính đến ngày nộp đơn khởi kiện thì Bà T không đóng hụi 04 kỳ hụi (kỳ hụi thứ 7 đến thứ 10) số tiền 24.000.000đ, ông B đã đóng hụi thay cho Bà T 24.000.000đ. Dây hụi này tính đến ngày khởi kiện Bà T còn nợ ông B 24.000.000đ.

Ngoài ra vào ngày 06/3/2022 âm lịch Bà T có vay của ông B số tiền 20.000.000đ, thời hạn trả tiền là 05 ngày sau khi vay tiền, Bà T trực tiếp nhận tiền từ ông B, mục đích vay tiền để đáo hạn ngân hàng, không thỏa thuận trả lãi, khi vay có làm giấy tay nội dung “…. Ngày 6-3-2022 đưa gái mượn 20.000.00đ 5 ngày trả lại”, tên Gái là tên thường gọi ở nhà của Bà T vì tin tưởng nên khi lập giấy tay vay tiền ông B không kêu Bà T ký tên xác nhận. Đến hạn trả tiền vay ông B đã nhiều lần yêu cầu Bà T trả tiền nợ trên cho Bà T nhưng Bà T không thực hiện. Khi Bà T vay tiền của ông B thì giữa bà và ông V còn là vợ chồng hợp pháp nên ông V phải có nghĩa vụ trả khoản nợ 20.000.000đ cho ông B.

Nay ông B khởi kiện yêu cầu Bà T cùng ông V liên đới trả cho ông B tổng cộng 63.000.000đ bao gồm tiền hụi 43.000.000đ và tiền vay là 20.000.000đ, ông không yêu cầu tính lãi. Ông B không đồng ý cho Bà T trả dần tiền hụi và tiền vay, ông yêu cầu trả một lần. Ngoài ra không có yêu cầu nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Lê Thị Tuyết trình bày: Bà T thống nhất có tham gia hụi do ông B làm chủ như ông B trình bày cụ thể:

- Dây hụi thứ 1: Hụi trị giá 3.000.000đ, khui ngày 15/9/2020 âm lịch, 01 tháng khui một lần, hụi gồm 22 phần, Bà T tham gia 01 phần, trong phiệu hụi tên Thúy (Gái) số thứ tự là 3, Bà T đã hốt hụi vào kỳ hụi thứ 3 ngày 15/12/2020 âm lịch, được số tiền 48.960.000đ, đã trừ tiền cò 1.500.000đ, ông B đã giao đủ tiền hụi cho Bà T. Sau khi hốt hụi thì Bà T không đóng hụi 04 kỳ hụi cuối số tiền 12.000.000đ, ông B đã đóng hụi thay cho Bà T 12.000.000đ, hụi đã mãn vào ngày 15/10/2022 âm lịch. Tuy nhiên tính đến ngày ông B nộp đơn khởi kiện thì dây hụi này Bà T còn nợ ông 03 kỳ số tiền 9.000.000đ.

- Dây hụi thứ 2: Hụi trị giá 2.000.000đ, khui ngày 10/11/2020 dương lịch , 01 tháng khui một lần, hụi gồm 26 phần, Bà T tham gia 01 phần, trong phiêu hụi tên Thúy (Gái) số thứ tự là 16, Bà T đã hốt hụi vào kỳ hụi thứ 8 ngày 10/6/2021 dương lịch, được số tiền 42.260.000đ, đã trừ tiền cò 1.000.000đ, ông B đã giao đủ tiền hụi cho Bà T. Hụi có ngưng 03 kỳ do dịch covid. Sau khi hốt hụi thì Bà T không đóng hụi đầy đủ, tính đến ngày nộp đơn khởi kiện Bà T không đóng hụi 05 kỳ hụi số tiền 10.000.000đ, ông B đã đóng hụi thay cho Bà T 10.000.000đ, hụi chưa mãn, hụi mãng ngày 10/3/2023 dương lịch.

- Dây hụi thứ 3: Hụi trị giá 3.000.000đ, khui ngày 05/01/2022 âm lịch, 01 tháng khui một lần, hụi gồm 19 phần, Bà T tham gia 02 phần, trong phiêu hụi tên Thúy (Gái) số thứ tự là 12, 13, Bà T đã hốt hụi vào kỳ hụi thứ 3 ngày 05/3/2022 âm lịch, được số tiền 41.700.000đ, đã trừ tiền cò 1.500.000đ và hốt hụi vào kỳ hụi thứ 4 ngày 05/4/2022 âm lịch được số tiền 41.000.000đ, ông B đã giao đủ tiền hụi cho Bà T; Hụi đến ngày 05/7/2023 thì mản. Sau khi hốt hụi thì Bà T không đóng hụi, tính đến ngày nộp đơn khởi kiện thì Bà T không đóng hụi 04 kỳ hụi số tiền 24.000.000đ.

Bà T tham gia hụi trong thời kỳ hôn nhân với ông V nhưng Bà T không thông báo cho ông V nên ông V không biết, mục đích tham gia hụi để choàng gánh các dây hụi khác do Bà T làm chủ hụi nên Bà T không đồng ý liên đơi với ông V trả tiền hụi cho ông B, Bà T thừa nhận còn nợ ông B số tiền hụi đến nay của các dây hụi trên là 43.000.000đ nên bà đồng ý trả cho ông B số tiền hụi 43.000.000đ.

Ngoài ra ngày 06/3/2022 âm lịch Bà T có vay của ông B số tiền 20.000.000đ, thời hạn trả tiền là 05 ngày sau khi vay tiền, Bà T trực tiếp nhận tiền từ ông B, mục đích vay tiền choàng hụi do bà làm chủ thảo, không thỏa thuận trả lãi. Hiện Bà T thừa nhận còn nợ ông B số tiền 20.000.000đ, bà đồng ý liên đới với ông V trả cho ông B số tiền gốc vay là 20.000.000đ. Do hiện Bà T gặp khó khăn về kinh tế nên bà xin trả dần tiền hụi và tiền vay cho ông B mỗi tháng 500.000đ thời gian trả tiền bắt đầu từ tháng 04/2023 đến khi trả hết số tiền nợ cho ông B. Ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V do bà Lê Thị Tuyết trình bày: Ông V thống nhất với lời trình bày của Bà T.

Vụ án được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành nên Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

. Ông Đặng Văn B khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Tuyết trả số tiền hụi và vay phát sinh từ hợp đồng góp hụi. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa.

. Bà Lê Thị Tuyết và ông Nguyễn Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để xét xử nhưng có đơn xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn B, HĐXX xét thấy:

Ông B có tổ chức 03 dây hụi cụ thể:

Dây 1: Hụi mở ngày 15/9/2020 (AL), 01 tháng khui một lần, hụi gồm 22 phần, Bà T tham gia 01 phần, ngày 15/12/2020 (AL) Bà T hốt được số tiền 48.960.000đ. Ông B đã giao hụi cho Bà T. Hụi đã mãn vào ngày 15/10/2022 (AL). Sau khi hốt hụi Bà T không đóng hụi cho ông B tình tới ngày khởi kiện là 03 kỳ số tiền 9.000.000đ.

Dây 2: Hụi mở ngày 10/11/2020 (DL), trị giá 2.000.000đ, 01 tháng khui một lần, hụi gồm 26 phần, Bà T tham gia 01 phần, ngày 10/6/2021 Bà T hốt được số tiền 42.260.000đ. Ông B đã giao hụi đầy đủ cho Bà T. Sau khi hốt hụi thì Bà T không đóng hụi đầy đủ, tính đến ngày nộp đơn khởi kiện Bà T không đóng hụi 05 kỳ số tiền 10.000.000đ.

Dây thứ 3: Hụi mở ngày 05/01/2022 (AL), Hụi trị giá 3.000.000đ, 01 tháng khui một lần, hụi gồm 19 phần, Bà T tham gia 02 phần, ngày 05/3/2022 Bà T hốt được số tiền 41.700.000đ. Ông B đã giao hụi đầy đủ cho Bà T. Sau khi hốt hụi thì Bà T không đóng hụi đầy đủ, tính đến ngày nộp đơn khởi kiện Bà T không đóng hụi cho ông 04 kỳ số tiền 24.000.000đ.

Vào ngày 06/3/2022 (AL) ông B cho Bà T vay số tiền 20.000.000đ, thời hạn trả tiền là 05 ngày sau khi vay tiền, mục đích vay tiền để đáo hạn ngân hàng, không thỏa thuận trả lãi. khi vay có làm giấy tay nội dung “…. Ngày 6-3-2022 đưa gái mượn 20.000.00đ, 5 ngày trả lại”. Đến hạn trả nợ Bà T không trả tiền vốn vay cho ông B.

Quá trình giải quyết vụ án Bà T thừa nhận có tham gia hụi như ông B khởi kiện và xác định còn nợ ông B 43.000.000đ tiền hụi tính tới ngày ông B khởi kiện. Đồng thời xác định còn nợ ông B 20.000.000đ tiền vốn vay. Nhận thấy do Bà T vi phạm nghĩa vụ của hụi viên, không đóng tiền hụi và vi phạm nghĩa vụ trả nợ khi nợ tới hạn nên ông B khởi kiện yêu cầu Bà T phải trả cho ông B tổng số tiền 63.000.000đ bao gồm 43.000.000đ tiền hụi và 20.000.000đ tiền vốn vay là có cơ sở và được chấp nhận.

Về trách nhiệm liên đới trả nợ: Xét thấy các dây hụi và khoản vay phát sinh trong thời kỳ hôn nhân đang tồn tại. Mục đích chơi hụi để trang trải kinh tế gia đình và vay tiền để đáo hạn ngân hàng. Do đó, yêu cầu buộc liên đới của ông B là có cơ sở được chấp nhận.

Đối với yêu cầu xin trả dần: Bà T xin trả dần mỗi tháng 500.000 đồng đến khi trả hết số tiền nợ hụi và nợ vay cho ông B nhưng không được ông B đồng ý. Pháp luật không quy định việc cho trả dần nên ý kiến của Bà T không được chấp nhận. Buộc Bà T ông V phải liên đới trả 01 lần số tiền nợ hụi và vay cho ông B.

Về lãi suất: Ông B không yêu cầu Bà T ông V phải trả lãi trên số tiền nợ hụi nên HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của ông B được chấp nhận nên bà Tuyết ông V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho ông B theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Ông B không phải chịu án phí và được miễn nộp tiền tạm ứng án phí do là người cao tuổi.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26 và các Điều 35, 39, 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 463, 466, 470, 471 Bộ luật dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ; Điều 27, Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; Điều 26 luật thi hành án dân sự.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn B đối với bà Lê Thị Tuyết và ông Nguyễn Văn V về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Lê Thị Tuyết và ông Nguyễn Văn V liên đới trả cho ông Đặng Văn B tổng số tiền 63.000.000đ bao gồm 43.000.000đ tiền hụi và 20.000.000đ tiền vốn vay.

Kể từ ngày ông Đặng Văn B có đơn yêu cầu thi hành án, thì bà Lê Thị Tuyết và ông Nguyễn Văn V phải liên đới chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà bà Lê Thị Tuyết và ông Nguyễn Văn V phải liên đới chịu 3.150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt bản án hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án được quyền tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật Thi hành dân sự án. *Nơi nhận:

Cỡ chữ