vanban.org

Bản án 32/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn à Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ị đơn bà Nguyễn Thị M hoàn trả số tiền hụi là 7.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn à Nguyễn Thị L có ngh a vụ chịu 375.000 đồng ( a trăm ảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng bà L là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn à Nguyễn Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Về… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị L - Nguyễn Thị M"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn à Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ị đơn bà Nguyễn Thị M hoàn trả số tiền hụi là 7.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 20 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2023/DS - ST.
Ngày: 07 - 6 - 2023.
V/v “tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Phương Đông.

2. Ông Lê Hồng Điệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Gia Mẫn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2022/TLST - DS, ngày 21 tháng 10 năm 2022 về việc “tranh chấp hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST - DS, ngày 13 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L; sinh năm 1960; địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M; sinh năm 1959; địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện lập ngày 21/4/2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn à Nguyễn Thị L trình bày: Vào ngày 02/12/2008 âm lịch à Nguyễn Thị L làm chủ hụi mở một dây hụi giá 300.000 đồng, gồm có 22 phần hụi, 01 tháng mở hụi 01 lần vào ngày 02, hụi có lãi và mỗi kỳ mở hụi bà L được hưởng hoa hồng là 100.000 đồng, bà Nguyễn Thị M tham gia 02 phần hụi đến ngày 02/01/2009 âm lịch à M hốt 01 phần hụi thứ nhất, sau khi hốt hụi à M đã đóng được 09 lần còn 13 lần hụi chết chưa đóng với số tiền 3.900.000 đồng và ngày 02/3/2009 âm lịch hốt 01 phần hụi thứ hai, sau khi hốt hụi à M đã đóng được 10 lần còn 12 lần hụi chết chưa đóng với số tiền 3.600.000 đồng. Bà Nguyễn Thị L yêu cầu à Nguyễn Thị M hoàn trả số tiền nợ hụi là 7.500.000 đồng.

- Đối với ị đơn à Nguyễn Thị M: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông áo về việc thụ lý vụ án cho à M, nhưng à M từ chối nhận iên ản với lý do là à không có tham gia chơi hụi của à L. Tòa án đã triệu tập hợp lệ à M để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

- Tại phiên toà, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình ày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn ộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ị đơn à Nguyễn Thị M có ngh a vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền hụi là 7.500.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện ngày 21/4/2022 nguyên đơn à Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng góp hụi với ị đơn là à Nguyễn Thị M. Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giải quyết “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Trong vụ án, ị đơn Nguyễn Thị M hiện cư trú tại ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn à Nguyễn Thị M đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ị đơn bà M.

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ị đơn bà Nguyễn Thị M hoàn trả số tiền hụi là 7.500.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L cho rằng vào ngày 02/12/2008 âm lịch (nhằm ngày 28/12/2008 dương lịch) bà Nguyễn Thị L làm chủ hụi mở một dây hụi giá 300.000 đồng, gồm có 22 phần hụi, 01 tháng mở hụi 01 lần vào ngày 02, hụi có lãi và mỗi kỳ mở hụi bà L được hưởng hoa hồng là 100.000 đồng, bà Nguyễn Thị M tham gia 02 phần hụi đến ngày 02/01/2009 âm lịch à M hốt 01 phần hụi thứ nhất, sau khi hốt hụi à M đã đóng được 09 lần còn 13 lần hụi chết chưa đóng với số tiền 3.900.000 đồng và ngày 02/3/2009 âm lịch hốt 01 phần hụi thứ hai, sau khi hốt hụi à M đã đóng được 10 lần còn 12 lần hụi chết chưa đóng với số tiền 3.600.000 đồng. Bà Nguyễn Thị L yêu cầu à Nguyễn Thị M hoàn trả số tiền nợ hụi là 7.500.000 đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ nguyên đơn bà Nguyễn Thị L cung cấp cụ thể: Tại út lục 11 thể hiện “Hụi tháng 300.000 đ khui ngày 02-12-2008 âl, khui mỗi tháng vào ngày 02, khui lúc 12 giờ trưa” có danh sách những người tham gia góp hụi do à L viết tay không có chữ ký của à L và những người tham gia góp hụi và tại út lục 76 lời khai của người làm chứng tên Nguyễn Thị Bích thể hiện “Tôi có chơi hụi của bà L vào năm 2008, khui hụi tháng 300.000 đồng, khui vào ngày 02/12/2008 âm lịch, tôi tham gia 01 chưng. Trong danh sách hụi tôi thấy bà M tham gia hai chưng và khi bà L đi gom hụi thì tôi hỏi ai hốt do tôi không đi khui thì bà L có nói cho tôi nghe là bà M hốt hụi còn việc bà M có hốt và nợ bà L bao nhiêu tiền hụi thì tôi không biết. Tôi chỉ biết sự việc nhưng vậy nên tôi từ chối làm chứng tại Tòa án” thì các tài liệu, chứng cứ nêu trên mà nguyên đơn cung cấp không thể hiện việc bà M có tham gia chơi hụi do à L làm chủ hụi.

Mặt khác, các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập được: Theo iên ản lấy lời khai của à Nguyễn Thị M tại Công an xã Song Phụng, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng và iên ản đối chất ngày 05/7/2012 à M có trình bày “ Tôi khẳng định tôi không có tham gia chơi dây hụi này và tôi cũng không biết gì về dây hụi này”; đồng thời, tại ản án số 01/2013/HSST ngày 04/01/2013 thể hiện: “hụi tháng, 01 tháng khui 01 lần, loại hụi 300.000 đồng khởi sự ngày 02/12/2008 AL (nhằm ngày 28/12/2008 DL) trong dây hụi này theo danh sách bị cáo L cung cấp có 21 người tham gia (22 chưng), nhưng thực tế chỉ có 15 người tham gia, kéo dài được 06 kì thì bể hụi. Trong dây hụi này, L đưa tên chị Thùy, Nguyễn Thị M (dì M), chị Thị, chị Quyền, cô Như, chị Như vào làm các hụi viên khống nhưng L chỉ dựa vào tên các hụi viên chị Thùy, Nguyễn Thị M (hai chưng) để hốt khống 02 phần”.

Ngoài ra, nguyên đơn à L không có cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho việc bà M có tham gia hụi viên trong dây hụi trên và còn nợ à L số tiền hụi là 7.500.000 đồng. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án ị đơn à M không thừa nhận có chơi hụi như à L trình bày. Từ những phân tích nêu trên, căn cứ quy định tại Điều 479 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 20 và Điều 31 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, iêu phường thì yêu cầu của nguyên đơn à Nguyễn Thị L uộc ị đơn à Nguyễn Thị M hoàn trả số tiền hụi còn nợ là 7.500.000 đồng là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Từ những phần tích nêu trên xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn à Nguyễn Thị L có ngh a vụ chịu 375.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng à L là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn à Nguyễn Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 479 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 20 và Điều 31 Nghị định số 144/2006/NĐ – CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn à Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ị đơn bà Nguyễn Thị M hoàn trả số tiền hụi là 7.500.000 đồng ( ảy triệu năm trăm nghìn đồng).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn à Nguyễn Thị L có ngh a vụ chịu 375.000 đồng ( a trăm ảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng bà L là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn à Nguyễn Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo ản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với ị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được ản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ ản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ