- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q.
- Căn cứ chính? Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/DS-ST Ngày: 05 - 05 -2023. “V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
NHAÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOAØ XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN CHÂU THÀNH, TÆNH TRAØ VINH
Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:
Thẩm Phán – Chủ Toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Thi Thị Thanh Trúc.
2/ Ông Đỗ Văn Chúc.
Thư ký phiên toà: Ông Dương Khởi - Thư Ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phên toà: Ông Trần Văn Thòn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 239/2022/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2022 về: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXX-DS ngày 03 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1967 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: 1/ Bà Phạm Thị B, sinh năm 1974 (Có mặt).
2/ Ông Trần Văn L, sinh năm 1973 (Vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
3/ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q, tại bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà Q có lời trình bày như sau: Bà có làm đầu thảo hụi và bà Phạm Thị B là hụi viên có tham gia dây hụi cụ thể như sau:
Dây hụi khui vào ngày 19/7/2019âl dây hụi tháng, loại hụi 5.000.000đồng gồm 34 phần, mỗi tháng khui hụi một lần và tiền thảo cho mỗi lần khui hụi là 2.500.000đồng, trong dây hụi này vợ chồng bà B, ông L và bà T có hùn tham gia (Vợ chồng bà B phân nửa và bà T phân nửa) có tham gia một phần, đã đóng được một lần hụi sống đến ngày 19/8/2019âl bà B và bà T kêu số tiền 2.015.000đồng và được hốt hụi. Sau khi gom hụi bà đã giao cho bà B và bà T nhận số tiền là 101.220.000đồng đã trừ tiền thảo có giấy giao nhận hụi do bà B và bà T cùng ký nhận hụi.
Trong dây hụi này bà B và bà T phải có nghĩa vụ đóng lại cho bà 32 lần hụi chết, nhưng bà B và bà T không có đóng hụi chết cho bà cho đến nay, dây hụi đã mãn vào ngày 19 tháng 4 năm 2022.
Trong dây hụi này bà yêu cầu bà B và ông L có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi chết mà bà đã đóng choàng là 80.000.000đồng (Tám mươi triệu đồng) và yêu cầu bà T có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi chết mà bà đã đóng choàng là 80.000.000đồng (Tám mươi triệu đồng). Phần tiền lãi bà yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày mãn hụi 19 tháng 4 năm 2022 cho đến ngày Tòa án xét xử vụ án.
Tại bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn bà Phạm Thị B có lời trình bày như sau: Bà thừa nhận có chơi hụi do bà Nguyễn Thị Q làm đầu thảo dây hụi ngày 19/7/2019 loại hụi 5.000.000đồng, trong dây hụi này có 34 phần, bà với bà T tham gia 1 chân bà phân nữa chân còn bà Nguyễn Thị T phân nữa. Sau khi hốt hụi phần của bà thì bà đã trừ vào số tiền hụi trước đây bà còn nợ bà Q chứ bà không có nhận tiền hụi. Sau đó bà đóng hụi chết lại cho bà Q mỗi tháng 2.500.000đồng đóng cho đến hụi mãn thì bà còn nợ lại bà Q khoản 4 lần hụi chết là 10.000.000đồng, sau đó bà Q có ra nhà bà gom tiền hụi thì bà có đưa cho bà Q số tiền 4.000.000đồng. Hiện tại dây hụi này bà chỉ còn nợ bà Q số tiền 6.000.000đồng.
Nay bà Q yêu cầu bà trả số tiền hụi chết là 80.000.000đồng (Tám mươi triệu đồng) thì bà không đồng ý. Do dây hụi này bà có ký nhận hụi với bà Q, nhưng không có nhận tiền hụi sau đó bà có đóng hụi chết cho bà Q đầy đủ, trong dây hụi này bà chỉ còn nợ lại bà Q số tiền là 6.000.000đồng (Sáu triệu đồng).
Tại bản tự khai ông Trần Văn L có lời trình bày như sau: Ông là chồng của bà Phạm Thị B, ông thống nhất theo ý kiến trình bày của bà B, ông không có ý kiến và cũng không yêu cầu gì thêm.
Theo bà Nguyễn Thị T có lời trình bày như sau: Bà thừa nhận có chơi hụi do bà Nguyễn Thị Q làm đầu thảo dây hụi ngày 19/7/2019 loại hụi 5.000.000đồng, trong dây hụi này bà tham gia phân nữa chân còn bà Phạm Thị B phân nữa chân. Sau khi hốt hụi thì bà chưa có đóng hụi chết cho bà Q lần nào.
Tại phiên tòa ông L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị T vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tòa án đã tiến hành hòa giải vụ kiện nhiều lần nhưng phía bị đơn vắng mặt và Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ lời trình bày và yêu cầu như đã nêu trên.
Bị đơn không yêu cầu phản tố và các đương sự không bổ sung chứng cứ gì mới tại phiên Toà. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên kết luận trình tự thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần hòa giải và thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều đúng qui định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ cho các đương sự nhận và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo qui định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Vị Kiểm sát viên Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 471 và Điều 468 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vị đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q.
Buộc bà Phạm Thị B với ông Trần Văn L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Q số tiền hụi còn nợ là 80.000.000đồng (Tám mươi triệu đồng) và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả cho bà Q số tiền hụi là là 80.000.000đồng (Tám mươi triệu đồng) và tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm từ ngày mãn hụi đến ngày xét xử sơ thẩm.
Ngoài ra Vị Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án“Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc Thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành.
Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Văn L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt và bà Nguyễn Thị T được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do là phù hợp theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như qua lời trình bày của các bên đương sự thì bà B và bà T đều thừa nhận bà có tham gia chơi năm dây hụi do bà Nguyễn Thị Q làm đầu thảo và bà Phạm Thị B và bà Nguyễn Thị T là hụi viên. Dây hụi mở ngày 19/7/2019âl hụi tháng loại hụi 5.000.000đồng, trong dây hụi này bà B và bà T đã hốt có giấy nhận hụi và phải có nghĩa vụ đóng hụi chết cho bà Q cho đầu thảo đến khi hụi mãn. Lời khai của các đương sự là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự đây là tình tiết sự kiện đương sự thừa nhận không cần phải chứng minh.
Tại phiên Toà hôm nay bà Q vẫn giữ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà B, ông L và bà T phải có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi chết là 160.000.000đồng và tiền lãi theo mức lãi suất quy định là 10%/năm từ ngày mãn hụi đến ngày xét xử sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này của bà Q là có cơ sở. Bởi vì bà B và bà T thừa nhận có tham gia chơi hụi và hốt hụi nhưng không đóng hụi chết cho bà Q là vi phạm nghĩa vụ của người hụi viên đối với đầu thảo.
Theo bà B cho rằng bà đã đóng hụi chết cho bà Q đầy đủ hiện tại chỉ còn nợ bà Q số tiền là 6.000.000đồng xét lời nại ra của bà B có chênh lệch số tiển tranh chấp, bà B cho rằng bà có đóng hụi cho bà Q nhưng bà B không có chứng cứ nào để chứng minh cho việc bà đã đóng hụi xong cho bà Q. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bà B không cung cấp được chứng cứ để chứng minh từ đó Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của bà B là không có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ vào Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự về nghĩa vụ chứng minh “Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minh” trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có thông báo cho các bên đương sự cung cấp chứng cứ nhưng bà Bích không có ý kiến gì và cũng không có giấy tờ nào để chứng minh cho lời trình bày của bà là đã đóng hụi chết xong cho bà Q.
Phía bà T thừa nhận có chơi hụi do bà Nguyễn Thị Q làm đầu thảo dây hụi ngày 19/7/2019 loại hụi 5.000.000đồng, trong dây hụi này bà phân nữa chân còn bà Phạm Thị B phân nữa chân. Sau khi hốt hụi thì bà chưa có đóng hụi chết cho bà Q lần nào. Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử buộc bà B và ông L có nghĩa vụ trả cho bà Q số tiền hụi là 80.000.000đồng và bà T có nghĩa vụ trả cho bà Q số tiền hụi là 80.000.000đồng là có cơ sở chấp nhận.
Đối với ông L mặc dù không có ký giấy nhận hụi, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án ông Lên có ý kiến là ông thống nhất theo ý kiến của bà . Xét thấy bà B và ông L là vợ chồng, giao dịch hụi này trong thời kỳ hôn nhân nên có đủ cơ sở buộc ông L cùng bà Bích có nghĩa vụ trả cho bà Q số tiền hụi còn nợ.
Xét về yêu cầu tính lãi: Hội đồng xét xử xét thấy việc bà B, ông L và bà T còn nợ tiền hụi của bà Q thì phải có nghĩa vụ trả tiền lãi cho bà Q là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Lãi suất được tính theo quy định của pháp luật là 10%/năm, tiền lãi được tính như sau: Số tiền hụi là 160.000.000đồng lãi suất tính từ ngày mãn hụi 19/4/2022 đến ngày xét xử 05/5/2023 là 12 tháng 16 ngày x 0,83%/tháng (Tức 10%/năm) là 16.644.000đồng (Mười sáu triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn đồng)
Xét ý kiến về việc giải quyết vụ án của Vị kiểm sát viên là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu được chấp nhận nên bà Q không phải chịu án phí. Bà B và ông L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 280, 288 và khoản 2 Điều 468, 471 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, Điểm a khoản 1 điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị định 19/2019/NĐ - CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q.
Buộc bà Phạm Thị B và ông Trần Văn L có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Q số tiền hụi còn nợ là 80.000.000đồng (Tám mươi triệu đồng) và tiền lãi là 8.322.000đồng (Tám triệu ba trăm hai mươi hai nghìn đồng).
Buộc bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Q số tiền hụi còn nợ là 80.000.000đồng (Tám mươi triệu đồng) và tiền lãi là 8.322.000đồng (Tám triệu ba trăm hai mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Phạm Thị B và ông Trần Văn L có nghĩa vụ nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 4.416.000đồng (Bốn triệu bốn trăm mười sáu nghìn đồng)
Buộc bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 4.416.000đồng (Bốn triệu bốn trăm mười sáu nghìn đồng)
- Bà Nguyễn Thị Q không phải chịu án phí và bà Q được nhận lại số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 4.000.000đồng (Bốn triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0014065 cùng ngày 31 tháng 10 năm 2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh thu.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo qui định tại Điều 174 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKS huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Các Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên đóng dấu) Nguyễn Thị Liên |