- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại"
- Tòa quyết gì? Gi nguyên phần Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2022/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G đã xét xử vụ án về “Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” gi a nguyên đơn l b Nguyễn Thị Đ v b Lưu Thị M với bị đơn l b Phan Thị Thu L, anh…
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/DS-PT Ngày 24-4-2023 “ V/v tranh chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH G
- T phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Tiến Dũng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Ông Lưu Anh Tuấn.
- Thư ký phiên toà: B L Thị Như Qu nh - Thư ký Tòa án của To án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh G tham gia phiên tòa: Ông Ho ng Văn Hạnh - Kiểm sát viên.
Từ ng y 21 tháng 4 đến ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại To án nhân dân tỉnh G, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2022/TLPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2022/DSST ng y 29 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân T phố P, tỉnh G bị kháng cáo.
Theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 75/2023/QĐ-PT ngày 16 tháng 2 năm 2023, gi a các đương sự:
Nguyên đơn:
1. B Nguyễn Thị Đ, địa chỉ: 340 Nguyễn Viết Xuân, phường Hội Phú, T phố P, tỉnh G.
B Nguyễn Thị Đ có mặt.
Người bảo vệ quyền v lợi ích hợp pháp của b Nguyễn Thị Đ: Ông Đỗ Trúc L, Luật sư của Công ty luật TNHH MTV Lâm Trí Việt, thuộc Đo n Luật sư T phố H.
Ông Đỗ Trúc L có mặt.
2. B Lưu Thị M, địa chỉ: Hẻm 315 Nguyễn Viết Xuân, tổ 3, phường Hội Phú, T phố P, tỉnh G.
B Lưu Thị M có mặt.
Bị đơn:
1. B Phan Thị Thu L;
2. Anh Trần Đức T;
3. Cháu Trần Đức K, sinh ngày 6-6-2016.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Trần Đức K: B Phan Thị Thu L (là mẹ đẻ).
Các bị đơn cư trú cùng địa chỉ: Số 5A Trần Khánh Dư, T phố P, tỉnh G.
B Phan Thị Thu L, anh Trần Đức T, cháu Trần Đức K vắng mặt.
Người bảo vệ quyền v lợi ích hợp pháp của b Phan Thị Thu L: Ông Trần Phước C v ông Đặng Ngọc B; Luật sư của Văn phòng Luật sư Bình M, thuộc Đo n Luật sư tỉnh G.
Ông Trần Phước C v ông Đặng Ngọc B vắng mặt.
Người kháng cáo: B Nguyễn Thị Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2022/DSST ng y 29 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Đ và bà Lưu Thị M trình bày:
Ông Trần Văn Hồ l chồng của b Phan Thị Thu L v l cha của anh Trần Đức T, cháu Trần Đức K.
Khi ông Hồ còn sống, do quen biết, nguyên đơn cho ông Hồ vay 1.500.000.000 đồng để l m ăn, buôn bán; tại “Giấy vay tiền” ng y 25-12-2017, ông Hồ ghi vay để đáo hạn ngân h ng v thời hạn vay l 7 ng y. Thực tế, hai bên thỏa thuận miệng với nhau l vay để l m ăn, buôn bán với thời hạn vay là 6 tháng v với lãi suất l 2%/tháng tính từ ng y 25-12-2017 đến ng y 25-6-2018.
Đến ng y 25-6-2018, ông Hồ mới trả cho nguyên đơn số tiền lãi l 180.000.000 đồng. Số tiền nợ gốc v số tiền lãi sau n y, ông Hồ hứa khi n o bán được nh sẽ trả; nhưng chưa bán được nh , chưa trả được tiền nợ thì v o năm 2020, ông Hồ bị bệnh chết, không lập di chúc.
Quá trình giải quyết, b Nguyễn Thị Đ trình b y về yêu cầu phản tố của b Phan Thị Thu L và xác Đ b còn nợ của b Phan Thị Thu L 410.000.000 đồng.
Đề nghị Tòa án buộc nh ng người ở h ng thừa kế thứ nhất của ông Hồ l b Phan Thị Thu L, anh Trần Đức T v cháu Trần Đức K phải trả cho b Nguyễn Thị Đ số tiền còn nợ l 1.090.000.000 đồng sau khi đã trừ 410.000.000 đồng nợ của b L v không yêu cầu tính lãi.
Đối với yêu cầu phản tố của b Phan Thị Thu L yêu cầu b Đ trả số tiền theo đối chiếu xác nhận nợ l 2.060.000.000 đồng, b Nguyễn Thị Đ không chấp nhận vì sau khi đối chiếu hai bên phải ghi T giấy vay tiền v đây chỉ l bản nháp, chính bà L cũng thừa nhận ch số ghi ng y tháng năm l 16-5-2020 do bà L tự viết, nên đối chiếu xác nhận nợ n y không có giá trị pháp lý.
Bị đơn:
Bà Phan Thị Thu L và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Phan Thị Thu L trình bày:
Ông Trần Văn Hồ chết ng y 14-2-2020, không để lại di chúc.
H ng thừa kế thứ nhất của ông Văn Trần Hồ gồm có b Phan Thị Thu L, anh Trần Đức T v cháu Trần Đức K.
Gi a b Nguyễn Thị Đ v gia đình b Phan Thị Thu L có l m ăn qua lại với nhau. Khi b Phan Thị Thu L và bà Đ có nhu cầu về tiền để giải quyết công việc thì cả hai người trao đổi v vay với nhau.
Đối với khoản vay của ông Trần Văn Hồ ng y 25-12-2017, thì ông Hồ đã trả xong cho b Đ ngay tại thời điểm đó rồi. Từ năm 2017 cho đến cuối năm 2019, khi ông Hồ còn sống, b Phan Thị Thu L không nghe việc ông Hồ có vay hay nợ tiền của b Đ, bà Đ cũng không có lần n o đến đòi nợ số tiền trên với vợ chồng b L.
Cuối năm 2019 (bà L không nhớ rõ ngày tháng), tại quán c phê cây Mận (trước đây là quán cà phê HD), ông Hồ đã yêu cầu b Đ trả tiền để ông trả ngân h ng, nhưng b Đ không trả, khi đó có anh Nguyễn Văn Phương l người l m chứng cho việc ông Hồ đòi tiền b Đ.
Cũng trong quá trình l m ăn gi a b Phan Thị Thu L và bà Đ, còn các khoản vay chưa tất toán với nhau, như ng y 16-5-2020, chính bà Đ l người viết cộng sổ sách tại nh của b Phan Thị Thu L v ghi nhận còn nợ b Phan Thị Thu L 2.060.000.000 đồng v cũng trong ng y 16-5-2020, bà Đ mượn tiếp của b Phan Thị Thu L 410.000.000 đồng. Như vậy, b Đ còn nợ tiền gốc của b Phan Thị Thu L 2.470.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu của b Nguyễn Thị Đ v b Lưu Thị M về việc buộc b Phan Thị Thu L v các con có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ theo giấy vay tiền ngày 25-12-2017, thì b Phan Thị Thu L không đồng ý vì số tiền n y, theo ông Trần Văn H thì ông đã trả cho b Đ rồi. Còn khoản tiền b Đ nợ b Phan Thị Thu L thì b Phan Thị Thu L yêu cầu b Đ phải trả dứt điểm một lần số tiền nợ gốc l 2.470.000.000 đồng v tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất cơ bản của Ngân h ng tính từ ng y 16-5-2020 đến khi giải quyết xong.
Anh Trần Đức T trình bày:
Anh nhất trí với lời trình b y của mẹ anh l b Phan Thị Thu L.
Việc b Đ và bà M kiện l không đúng, vì cha của anh là ông Trần Văn H không nợ bà Đ, bà M số tiền lớn như vậy.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2022/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G đã quyết định:
Áp dụng các Điều 275, 280, 385, 463, 466, 468, 469, 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015; tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ và bà Lưu Thị M; buộc bà Phan Thị Thu L, anh Trần Đức T và cháu Trần Đức K phải trả cho bà Nguyễn Thị Đ và bà Lưu Thị M số tiền gốc l 1.500.000.000 đồng trong phạm vi di sản do ông Trần Văn H để lại.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Phan Thị Thu L; buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho bà Phan Thị Thu L tổng số tiền 2.944.322.333 đồng, trong đó tiền gốc l 2.470.000.000 đồng, tiền lãi l 474.322.333 đồng.
Bù trừ nghĩa vụ bà Nguyễn Thị Đ còn phải trả cho bà Phan Thị Thu L số tiền l 2.944.322.333 đồng - 1.500.000.000 đồng = 1.444.322.333 đồng.
Ngo i ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ chịu lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán; thông báo quyền tự nguyện, thỏa thuận hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định của Luật thi h nh án dân sự v tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 12-9-2022, bà Nguyễn Thị Đ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Phan Thị Thu L đối với 2.060.000.000 đồng v lãi của số tiền n y.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn gi nguyên yêu cầu khởi kiện; b Nguyễn Thị Đ gi kháng cáo.
- Bị đơn v người bảo vệ quyền v lợi ích hợp pháp của b Phan Thị Thu L vắng mặt.
- Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử gi nguyên phần bản án sơ thẩm sơ thẩm đã xét xử về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do không có kháng cáo, kháng nghị v đề nghị Hội đồng xét xử huỷ phần bản án sơ thẩm đã xét xử đối với yêu cầu phản tố của b Phan Thị Thu L, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại phần bản án bị huỷ theo thủ tục sơ thẩm; buộc các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm v phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại bản án sơ thẩm, To án cấp sơ thẩm đã quyết định: “Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ và chị Lưu Thị M; buộc chị Phan Thị Thu L, cháu Trần Đức T và Trần Đức K phải trả cho chị Nguyễn Thị Đ và chị Lưu Thị M số tiền gốc là 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng), trong phạm vi di sản do anh Trần Văn H để lại”; các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị, nên phần quyết định này của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[1.2] Các bị đơn; người bảo vệ quyền v lợi ích hợp pháp của b Phan Thị Thu L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai m vẫn vắng mặt, nên theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến h nh xét xử vụ án.
[2] Xem xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ:
Cũng tại bản án sơ thẩm, To án nhân dân thành phố P, tỉnh G còn quyết định:
“ Chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Phan Thị Thu L.
Buộc chị Nguyễn Thị Đ phải trả cho chị Phan Thị Thu L tổng số tiền 2.944.322.333 đồng; trong đó nợ gốc là 2.470.000,000 đồng, tiền lãi là 474.322.333 đồng.
Bù trừ nghĩa vụ chị Nguyễn Thị Đ còn phải trả cho chị Phan Thị Thu L số tiền là 2.944.322.333 đồng - 1.500.000.000 đồng = 1.444.322.333 đồng”.
Phần quyết định n y của bản án sơ thẩm bị một trong nh ng nguyên đơn l b Nguyễn Thị Đ kháng cáo cho rằng b không nợ b Phan Thị Thu L 2.060.000.000 đồng như “yêu cầu phản tố của bà Phan Thị Thu L”.
Các t i liệu, chứng cứ của vụ án v bản án sơ thẩm đều thể hiện rằng, b Nguyễn Thị Đ chỉ thừa nhận b có vay b Phan Thị Thu L 410.000.000 đồng vào ngày 16-5-2020 trong tổng số 2.470.000.000 đồng m b Phan Thị Thu L “phản tố”; b Nguyễn Thị Đ chấp nhận v đồng ý trừ đi 410.000.000 đồng đó. Tuy nhiên, đây chỉ l lời khai của b Nguyễn Thị Đ.
Khoản 1 Điều 200 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định:
“Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn”.
Điều luật trên quy định rằng, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, sau khi bị đơn phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Đây l vụ án có quan hệ pháp luật đang tranh chấp l yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại v nguyên đơn l 2 người gồm b Nguyễn Thị Đ v b Lưu Thị M, bị đơn l 3 người gồm b Phan Thị Thu L và anh Trần Đức T, cháu Trần Đức K chứ không phải nguyên đơn l một mình b Nguyễn Thị Đ v bị đơn l một mình b Phan Thị Thu L.
Như vậy, Tòa án không thể thụ lý yêu cầu phản tố trong trường hợp n y, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định “chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Phan Thị Thu L” l vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền v lợi ích hợp pháp của đương sự; bản án sơ thẩm tự tiện tuyên xử “Bù trừ nghĩa vụ, chị Nguyễn Thị Đ còn phải trả cho chị Phan Thị Thu L số tiền là 2.944.322.333 đồng - 1.500.000.000 đồng = 1.444.322.333 đồng” l không đúng; vì quyết định như vậy l đã tước đi quyền được thi h nh án của b Lưu Thị M. Mặt khác, anh Trần Đức T, cháu Trần Đức K không phải thực hiện việc thi h nh án trong phạm vi di sản do ông Trần Văn H để lại l mẫu thuẫn với quyết định của bản án sơ thẩm: “1. Buộc chị Phan Thị Thu L, cháu Trần Đức T và Trần Đức K phải trả cho chị Nguyễn Thị Đ và chị Lưu Thị M số tiền gốc là 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng), trong phạm vi di sản do anh Trần Văn H để lại”.
Đối chiếu với quy định tại Điều 200 của Bộ luật tố tụng dân sự thì một mình b Phan Thị Thu L không thể l bị đơn của vụ án (mà vụ án này có 3 bị đơn), nên bà Phan Thị Thu L không thể phản tố đối với nguyên đơn trong vụ án này; nếu bà Phan Thị Thu L tranh chấp với b Nguyễn Thị Đ về hợp đồng dân sự vay 2.470.000.000 đồng v có đơn khởi kiện thì Tòa án giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Từ đánh giá v nhận định trên đây, Hội đồng xét xử phúc thẩm gi nguyên phần bản án sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như nhận định tại phần [1] v hủy phần bản án sơ thẩm liên quan đến yêu cầu phản tố của b Phan Thị Thu L đã xét xử nội dung: “Chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Phan Thị Thu L: Buộc chị Nguyễn Thị Đ phải trả cho chị Phan Thị Thu L tổng số tiền 2.944.322.333đ (Hai tỷ chín trăm bốn bốn triệu ba trăm hai hai nghìn ba trăm ba ba đồng)trong đó tiền gốc là 2.470.000.000đ tiền lãi là 474.322.333đ…Bù trừ nghĩa vụ chị Nguyễn Thị Đ còn phải trả cho chị Phan Thị Thu L số tiền là 2.944.322.333đ – 1.500.000.000đ = 1.444.322.333đ (Một tỷ bốn trăm bốn bốn triệu ba trăm hai hai nghìn ba trăm ba ba đồng)”, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại phần bản án bị huỷ theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với 1.500.000.000 đồng m nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn; ho n trả lại cho b Nguyễn Thị Đ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp l 28.500.000 đồng.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với 1.500.000.000 đồng m nguyên đơn khởi kiện.
Đối với số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm m b Phan Thị Thu L đã nộp l 43.812.000 đồng theo Biên lai số 0001022 ng y 12-11-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh G thì sẽ được xác định lại khi Tòa án giải quyết lại phần bản án bị hủy theo thủ tục sơ thẩm.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do hội đồng xét xử phúc thẩm hủy một phần bản án sơ thẩm bị kháng cáo, nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; ho n trả lại cho b Nguyễn Thị Đ số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1 v khoản 3 Điều 308, Điều 309, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ Điều 26, 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Gi nguyên phần Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2022/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G đã xét xử vụ án về “Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” gi a nguyên đơn l b Nguyễn Thị Đ v b Lưu Thị M với bị đơn l b Phan Thị Thu L, anh Trần Đức T và anh Trần Đức K như sau:
Áp dụng các Điều 275, Điều 280 v Điều 615 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của b Nguyễn Thị Đ v b Lưu Thị M.
Buộc b Phan Thị Thu L, anh Trần Đức T v cháu Trần Đức K phải trả cho b Nguyễn Thị Đ v b Lưu Thị M số tiền 1.500.000.000 đồng trong phạm vi di sản do ông Trần Văn H để lại.
Kể từ ng y có đơn yêu cầu thi h nh án của người được thi h nh án cho đến khi thi h nh án xong khoản tiền nêu trên, người phải thi h nh án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi h nh án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
B Nguyễn Thị Đ và b Lưu Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; ho n trả lại cho b Nguyễn Thị Đ 28.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000921 ng y 25-10-2021 của Chi cục Thi h nh án dân sự T phố P, tỉnh G.
B Phan Thị Thu L, anh Trần Đức T v cháu Trần Đức K phải chịu 57.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
2. Hủy phần Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2022/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G đã xét xử vụ án về “Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” gi a nguyên đơn l b Nguyễn Thị Đ v b Lưu Thị M với bị đơn l b Phan Thị Thu L, anh Trần Đức T và anh Trần Đức K về nội dung: “Chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Phan Thị Thu L: Buộc chị Nguyễn Thị Đ phải trả cho chị Phan Thị Thu L tổng số tiền 2.944.322.333đ (Hai tỷ chín trăm bốn bốn triệu ba trăm hai hai nghìn ba trăm ba ba đồng) trong đó tiền gốc là 2.470.000.000đ tiền lãi là 474.322.333đ…Bù trừ nghĩa vụ chị Nguyễn Thị Đ còn phải trả cho chị Phan Thị Thu L số tiền là 2.944.322.333đ – 1.500.000.000đ = 1.444.322.333d (Một tỷ bốn trăm bốn bốn triệu ba trăm hai hai nghìn ba trăm ba ba đồng)” v chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại phần bản án bị huỷ theo thủ tục sơ thẩm.
Số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm m b Phan Thị Thu L đã nộp l 43.812.000 đồng theo Biên lai số 0001022 ng y 12-11-2021 của Chi cục Thi h nh án dân sự thành phố P, tỉnh G sẽ được xác định lại khi Tòa án giải quyết lại phần bản án bị hủy theo thủ tục sơ thẩm.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
B Nguyễn Thị Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; ho n trả cho bà Nguyễn Thị Đ 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0002428 ng y 13 tháng 9 năm 2022 của Chi cục Thi h nh án dân sự thành phố P, tỉnh G;
5. Trường hợp bản án được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy Đ tại các Điều 6, 7, 9 của Luật Thi h nh án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh G;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa
- TAND T phố P;
- Chi cục THA dân sự T phố P;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, Toà DS, VT.
Phan Tiến Dũng
Các Thẩm phán
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lưu Anh Tuấn
Nguyễn Tiến Sỹ
Phan Tiến Dũng
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh G; - TAND T phố P; - Chi cục THA dân sự T phố P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Toà DS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Phan Tiến Dũng |