- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch Oanh Thi cùng đồng phạm - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2022/HSST Ngày 31-03-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hòa.
Ông Nguyễn Long Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2022/QĐST- HS ngày 08 tháng 3 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Lê Chí T, sinh năm 1995 tại B; nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã L, huyện Phước Long, tỉnh B; nơi tạm trú: khu phố S, thị trấn U, huyện B, tỉnh D; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Chí T và bà Tô Thị U; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt để tạm gi , tạm giam t ngày 12 tháng 9 năm 2021 đến nay, có m t.
2. Thạch Oanh K, sinh năm 2000 tại V; nơi đăng ký thường trú: ấp E, xã C, huyện C1, tỉnh V; nơi tạm trú: khu phố B, thị trấn U, huyện B, tỉnh D; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Khơ me; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà Thạch Thị Lâm H; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt để tạm gi , tạm giam t ngày 12 tháng 9 năm 2021 đến nay, có m t.
3. Nguyễn Hoàng D, sinh năm 2001 tại G; nơi đăng ký thường trú: 52/3 Trần Khánh D, phường A, thành phố R, tỉnh G; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hoàng Phi H và bà Nguyễn Thị Kim L; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt để tạm gi , tạm giam t ngày 12 tháng 9 năm 2021 đến nay, có m t.
- Ng i c u n l i, ngh a liên uan đến án:
1. Anh Nguyễn Thanh K, sinh năm 1995; nơi cư trú: ấp K, xã H, huyện B, tỉnh D (vắng m t, có đơn xin xét xử vắng m t).
2. Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1999; nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện B, tỉnh D (vắng m t, có đơn xin xét xử vắng m t).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
T ngày 31 tháng 8 năm 2021, các bị cáo Lê Chí T, Thạch Oanh K và Nguyễn Hoàng D được cách ly, điều trị tại khu cách ly điều trị tập trung bệnh nhân Covid-19 tại Trường Trung học cơ sở Lai Hưng, xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Ngày 10 tháng 9 năm 2021, D lên mạng xã hội đ t mua trứng vịt lộn và 02 lít rượu trắng để uống tại Khu cách ly. Khoảng 18 giờ cùng ngày, D uống rượu tại hành lang trước cửa phòng điều trị tầng 1 của Khu cách ly. D rủ bị cáo K cùng chị Phan Kim Xuyến, chị Phan Diễm Trinh và chị Huỳnh Phương Huyền cùng uống rượu. Sau đó, bị cáo T cũng đến tham gia. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, D vào phòng nghỉ. Anh Nguyễn Quốc T và anh Nguyễn Thanh K là Dân quân cơ động xã Lai Hưng được Ban Chỉ huy quân sự huyện Bàu Bàng điều động làm nhiệm vụ trong khu cách ly theo Quyết định số 757/QĐ-BCH ngày 22 tháng 8 năm 2021. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, anh T và anh K nghe tiếng ồn ào thì m c đồ bảo hộ phòng chống dịch bệnh đến tầng 1 khu cách ly phát hiện nhóm của bị cáo K đang uống rượu, anh T cầm gậy cao su đi cùng anh K đến nhắc nhở, khi thấy anh T và anh K đi lại thì các bị cáo K và T nói là “Mấ anh cầm ba trắc lên đâ làm gì?”, có lời lẽ xúc phạm anh T và anh K, tiếp đó bị cáo K đã dùng tay, chân đánh vào người, đầu của anh Khương, bị cáo T thì xông vào dùng tay, chân đánh anh T, giật gậy cao su rồi dùng gậy cao su và 01 chồng ghế nhựa màu đỏ đánh anh T. Lúc đang xảy ra vụ việc thì D thấy hai người m c đồ bảo hộ y tế, D biết là cán bộ làm nhiệm vụ tại khu cách ly nhưng D vẫn xông vào dùng tay, chân đánh vào người, đầu của K, anh K bị đánh sau đó bỏ chạy xuống dưới tầng trệt. Thấy bị cáo T đang đánh anh T thì các bị cáo K và D xông vào dùng tay, chân cùng đánh. Thấy anh T bị đánh nên X và A vào can ngăn. Hậu quả anh T và anh K bị thương tích phần mềm (lưng, đầu…), X và A bị sây sát nhẹ. Các bị cáo T và K đã trốn khỏi Khu cách ly. Đến 02 giờ ngày 11 tháng 9 năm 2021, Lực lượng Công an phát hiện các bị cáo T và K đang ở khu phố B, thị trấn U, huyện B, tỉnh D. Lực lượng Công an đã đưa bị cáo T cách ly tại Trung tâm y tế xã Cây Trường II, bị cáo K được đưa đi cách ly tại Trung tâm y tế xã V.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lê Chí T, Thạch Oanh K và Nguyễn Hoàng D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thanh Kvà anh Nguyễn Quốc T có đơn xin t chối giám định thương tích do các bị cáo Lê Chí T, Thạch Oanh K và Nguyễn Hoàng D.
Đại diện Viện kiểm sát gi quyền công tố tại phiên tòa gi nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Lê Chí T, Thạch Oanh K và Nguyễn Hoàng D đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người K hành công vụ”.
Thu gi vật chứng gồm: 03 ghế nhựa chất liệu màu đỏ chồng lên nhau, trên mỗi ghế có ghi ch 6A1. Trong đó có 02 ghế tương tự nhau phía dưới in ch “DAI DONG TIEN PLASTIC”, 01 ghế phía dưới in ch “DUY TÂN” No.634; 01 cây màu đen chất liệu bằng nhựa cứng có kích thước dài 1,04m, đường kính thân 3,5cm, phần tay cầm dài 14cm có buộc dây vải màu đen, trên thân có ch “-TC IV-”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về các vấn đề trên.
Tại bản Cáo trạng số 07/QĐ – KSĐT ngày 06 tháng 01 năm 2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Lê Chí T, Thạch Oanh K và Nguyễn Hoàng D về tội “Chống người K hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên gi nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 330; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lê Chí T mức hình phạt t 12 (mười hai) tháng tù đến 14 (mười bốn) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 330; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Thạch Oanh K mức hình phạt t 12 (mười hai) tháng tù đến 14 (mười bốn) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 330; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D mức hình phạt t 12 (mười hai) tháng tù đến 14 (mười bốn) tháng tù.
Xử lý vật chứng: trả lại 03 ghế nhựa chất liệu màu đỏ chồng lên nhau, trên mỗi ghế có ghi ch 6A1. Trong đó có 02 ghế tương tự nhau phía dưới in ch “DAI DONG TIEN PLASTIC”, 01 ghế phía dưới in ch “DUY TÂN” No.634 cho Trường trung học cơ sở Lai Hưng; Trả 01 cây màu đen chất liệu bằng nhựa cứng có kích thước dài 1,04m, đường kính thân 3,5cm, phần tay cầm dài 14cm có buộc dây vải màu đen, trên thân có ch “-TC IV-” cho Ban chỉ huy Quân sự xã Lai Hưng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về quyết định truy tố, luận tội của Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo T trình bày lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo K trình bày lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
D trình bày lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng đã quy kết. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với nh ng tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 ngày 10 tháng 9 năm 2021, tại Khu cách ly điều trị tập trung bệnh nhân Covid-19 tại Trường Trung học cơ sở Lai Hưng thuộc xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Thạch Oanh K, Lê Chí T và Nguyễn Hoàng D dùng tay, chân, gậy cao su và 01 chồng ghế nhựa để đánh anh Nguyễn Quốc Thịnh và anh Nguyễn Thanh Khương nhằm cản trở thực hiện hoạt động gi gìn an ninh, trật tự tại khu cách ly tập trung dù các bị cáo biết rõ hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật.
Hành vi của các bị cáo Lê Chí T, Thạch Oanh K và Nguyễn Hoàng D đã dùng vũ lực cản trở người K hành công vụ thực hiện công vụ là hoạt động gi gìn an ninh, trật tự tại khu cách ly tập trung. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Lê Chí T, Thạch Oanh K và Nguyễn Hoàng D về tội “Chống người K hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng.
Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc thực hiện công vụ của người K hành công vụ (ở đây là Dân quân thực hiện nhiệm vụ vòng trong, vòng ngoài phục vụ khu cách ly, điều trị f0 dịch Covid 19), xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, cụ thể là hoạt động đảm bảo an ninh trật tự tại khu cách ly tập trung. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xử lý bằng biện pháp hình sự tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn cần Kết.
Hành vi của các bị cáo sau khi bị nhắc nhở về việc không cho tổ chức uống rượu, bia tại khu cách ly thì các bị cáo T, K và Dương không chấp hành, có lời lẽ xúc phạm anh Thịnh và anh Khương và đã dùng tay và chân đánh vào người, đầu của anh Khương và anh Thịnh. Các bị cáo đã không chấp hành nội quy, quy định mà còn có hành động hành hung nh ng người thực hiện công vụ. Hành vi của các bị cáo thể hiện thái độ côn đồ, xem thường pháp luật, sức khỏe của người khác, xem thường hiệu lực quản lý hành chính của Nhà nước, gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội, gây mất trật tự trị an tại Khu cách ly. Xét về yếu tố lỗi, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử cần xử các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ng a chung.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo. Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bồi thường Kệt hại: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, anh Khương và anh Thịnh không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xử lý vật chứng: 03 ghế nhựa chất liệu màu đỏ chồng lên nhau, trên mỗi ghế có ghi ch 6A1. Trong đó có 02 ghế tương tự nhau phía dưới in ch “DAI DONG TIEN PLASTIC”, 01 ghế phía dưới in ch “DUY TÂN” No.634 là tài sản của Trường Trung học cơ sở Lai Hưng nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã trả lại theo Quyết định xử lý vật chứng số 88/QĐ ngày 08 tháng 12 năm 2021 là đúng pháp luật; 01 cây màu đen chất liệu bằng nhựa cứng có kích thước dài 1,04m, đường kính thân 3,5cm, phần tay cầm dài 14cm có buộc dây vải màu đen, trên thân có ch “-TC IV-” là tài sản của Ban chỉ huy Quan sự xã Lai Hưng nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã trả lại theo Quyết định xử lý vật chứng số 89/QĐ ngày 08 tháng 12 năm 2021 là đúng pháp luật (Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 08 tháng 12 năm 2021).
Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Lê Chí T, Thạch Oanh K và Nguyễn Hoàng D.
Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 .
Căn cứ vào các điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 260, Điều 268, Điều 269 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Lê Chí T, Thạch Oanh K và Nguyễn Hoàng D phạm tội “Chống người K hành công vụ”.
Xử phạt bị cáo Thạch Oanh K 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính t ngày 12 tháng 9 năm 2021.
Xử phạt bị cáo Lê Chí T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính t ngày ngày 12 tháng 9 năm 2021.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính t ngày 12 tháng 9 năm 2021.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo Lê Chí T, Thạch Oanh K và Nguyễn Hoàng D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng m t có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể t ngày nhận được bản án ho c niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng; - Chi cục K hành án dân sự huyện Bàu Bàng; - Công an huyện Bàu Bàng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai |