- Tranh chấp gì? án hình sự — "huy hoai tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đình T và bị cáo Nguyễn Phúc T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 32 /2022/HSST Ngày: 20-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà Vi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Nguyễn Ry
- Bà: Phan Thị Hà
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Quang Vũ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Việt Phú – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2022/TLST- HS ngày 07 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2022/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 5 năm 2022 đối với các bị cáo:
1/. Họ và tên: Lê Đình T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 05/6/1965 tại Hà Nội.
NKTT và chỗ ở : Thôn Thanh Bình, xã Lộc Đức, huyện B, tỉnh Lâm Đồng
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 07/10;
Con ông: Lê Đình B(sinh năm 1936, đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T(sinh năm: 1938), hiện sống tại Thôn Thanh Bình, xã Lộc Đức, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Gia đình có 05 chị, anh em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình;
Vợ: Nguyễn Thị Y(sinh năm: 1974). Con: có 03 người con sinh năm 1993, 1995 và năm 2005. Hiện sống tại Thôn Thanh Bình, xã Lộc Đức, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Tiền sự, tiền án: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/12/2021 đến nay tại xã Lộc Đức, huyện B.
2/. Họ và tên: Nguyễn Phúc T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 07/12/2001 tại Lâm Đồng;
NKTT: Thôn 1, xã Tân Thanh, huyện L, tỉnh Lâm Đồng
Chỗ ở hiện nay: Thôn 1, xã Tân Thanh, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 11/12;
Con ông: Nguyễn Văn T (sinh năm: 1979); Con bà: Trịnh Thị T(sinh năm: 1983). Cả hai hiện sống tại xã Tân Thanh, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có.
Tiền sự, tiền án: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/12/2021 đến nay tại xã Tân Thanh, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
+ Người bị hại:
1. Chị Đặng Thị Thùy T, sinh năm: 1991. Địa chỉ: Số 12, đường Yết Kiêu, phường Lộc Sơn, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt
2. Anh Vũ Ngọc H, sinh năm: 1991. Địa chỉ: Thôn Nga Sơn, xã Lộc Nga, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt
+ Người làm chứng
Anh Trịnh Văn D, sinh năm: 1986. Địa chỉ: Thôn Thanh Bình, xã Lộc Đức, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Đặng Thị Thùy T, anh Phạm Bình N(chồng T) và anh Nguyễn Đăng T, anh Vũ Ngọc H góp cổ phần mở công ty Bất động sản Bình Nguyên và cho thuê xe ô tô tự lái tại thành phố B. Vào ngày 21/11/2021 anh Lê Đình H (Sn: 1992, NKTT: thôn Thanh Bình, xã Lộc Đức, huyện B) đến gặp anh Nguyễn Đăng T thuê xe ô tô 7 chỗ hiệu IsuZu, BKS 49A -39182 đi xuống huyện Bù Đốp, Bình Phước chở hàng thì bị Bộ đội biên phòng Bình Phước bắt do xe chở Pháo lậu. Ngày 25/11/2021 Toàn, Nguyên, Sơn xuống Công an huyện Bù Đốp làm việc rồi cho H đi về cùng xe, H cam kết sẽ chịu trách nhiệm việc xe ô tô của Toàn bị Công an tạm giữ.
Trưa ngày 27/11/2021 Toàn điện thoại yêu cầu H ra Bảo Lộc ký lại hợp đồng thuê xe như đã cam kết nhưng H không đồng ý. Do đó, vào khoảng 20h00’ ngày 27/11/2021 Toàn điều khiển xe ô tô KIA Optima BKS 49A - 341.42 chở T, Nguyên và Hải điều khiển xe bán tải For Range Wildtrak BKS 49C – 192.98 chở Đào Thị Thanh V (Sn: 1996; HKTT: xã Lộc Thành, huyện B) đi vào đến ngã 3 Minh Rồng, TT. Lộc Thắng đón Hg Duy L(Sn: 1990, NKTT: tổ 3, TT. Lộc Thắng, là em họ Hải) nhờ dẫn đường đi vào nhà của H để nói chuyện hợp đồng thuê xe và xe bị tạm giữ.
Khi đến nhà H xe Hải dừng bên trái, xe Toàn dừng bên phải theo hướng đường liên thôn xã Lộc Đức đi xã Lộc Thanh, Tp. Bảo Lộc. Toàn, Hải, Nguyên vào nhà nói chuyện thì xảy mâu thuẫn, cãi nhau. Ông H (bố H) cầm một khúc cây để đánh thì được vợ Nguyễn Thị Chinh can ngăn, nói nhóm của Toàn, Hải, Nguyên đi về. Thấy vậy, Lê Nguyễn Khánh Huy (em trai H) điện báo cho Nguyễn Phúc T biết ở nhà đang xảy ra cãi nhau. Lúc này, Thiện đang ngồi ăn tiệc trà với Lê Đình T, Lê Đình T, Nguyễn Văn K, Trịnh Văn D nên nói cho mọi người biết và rủ nhau đến nhà ông H thì thấy nhóm của Toàn, Hải lên xe nổ máy để đi về, còn Hương (vợ H) đang ôm đỡ bà Chinh (vợ H) đang nằm ở sân. Cho rằng, nhóm của Toàn, Hải, Nguyên đánh người nhà mình nên T nhặt 02 ( hai) cục gạch ở gần cổng cầm hai tay đi đến dùng 01 viên gạch vỗ vào kính bên tài xe KIA 01 cái rồi chạy lên chặn phía trước xe Ford Ranger. Thấy vậy, Hải điều khiển xe đi chậm né sang phải thì T cầm gạch bằng tay phải ném trúng vào cột chữ A và kính chắn gió phía trước bên tài của xe Ford Ranger. Còn Thiện lấy 01 cục bê tông ném trúng vào đèn xi nhan bên phải xe ô tô KIA làm vỡ đèn xi nhan. Toàn điều khiển xe chạy đi thì Thiện đuổi theo dùng tay trái đè lên thanh nhựa cản gió để nhảy lên làm thanh nhựa bị vỡ rồi dùng tay phải đấm 01 phát vào kính chắn gió phía sau làm kính bị lõm xuống vỡ rạn và tiếp tục đấm thêm 01 phát vào vị trí kính sát với khung xe sau thì xe KIA chạy đi khỏi hiện trường. Sau đó, T, Thiện vào nhà H nói chuyện thì biết bà Chinh bị ông H gạt ngã chứ không phải bị nhóm của Hải, Toàn đánh nên T chửi ông H rồi kể lại sự việc đập phá hai xe ô tô và tiếp tục đi đám cưới.
Còn nhóm Toàn, Hải điều khiển hai xe ô tô đi về nhà ở Bảo Lộc kiểm tra phát hiện xe bị hư hỏng nên đưa xe đến trình báo Công an xã Lộc Đức, lập biên bản vụ việc, biên bản kiểm tra phương tiện xe ô tô và tạm giữ xe ô tô KIA OPTIMA BKS 49A -341.42. Riêng Xe ô tô bán tải Ford range BKS 49C -192.98 giao cho anh Vũ Ngọc H quản lý. Hậu quả: Xe ô tô bán tải Ford Range BKS 49C -192.98 bị 01 vết lõm ở vị trí trụ trước của xe; 01 vết nứt, bể ở vị trí kính trước của xe; Xe KIA OPTIMA BKS 49A -341.42 bị 01 vết nứt bể toàn bộ kính sau của xe; 01 vết bể đèn xi nhan sau bên phải; 01 vết nứt bể cản gió sau; 01 vết nứt BKS, 02 vết xước kính xe bên phía tài xế.
Tại Bản kết luận định giá số 150/KL-HĐĐGTS ngày 03/12/2021 của HĐĐG TS trong TTHS huyện B kết luận: Xe ô tô Ford ranger Wildtra BKS 49C -192.98: 01 vết lõm kích thước 3x5cm, lún sâu 5mm ở trước (bên tài) có giá 1.000.000 đồng; 01 vết nứt bể có chiều dài 37cm x 12cm có giá 6.000.000 đồng. Xe Kia OPTIMA BKS 49A -341.3202 bị vết xước kính bên phải có giá 1.000.000 đồng. Tổng trị giá thiệt hại do Lê Đình T gây ra là 8.000.000 đồng;
Xe Kia OPTIMA BKS 49A -341.32 bể toàn bộ kính chắn gió phía sau 3.000.000 đồng; Bể phần nhựa xi nhan sau bên phải 500.000 đồng; 02 vết móp ở đuôi xe bên phải, lún sâu 02mm giá 2.000.000 đồng; 01 vết nứt bể dài 32cm, vết bể kích thước 10 x04cm, của cản gió sau có giá 5.000.000 đồng; 01 vết nứt tại ốp nhựa ốp BS giá 100.000 đồng. Tổng trị giá thiệt hại do Nguyễn Phúc T gây ra là 10.600.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng số 25/CTr-VKS ngày 07/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Lê Đình T và bị cáo Nguyễn Phúc T về tội:“Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Lê Đình T, Nguyễn Phúc T từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thủ thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Đình T đã bồi thường cho anh Vũ Ngọc H số tiền 8.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Phúc T đã bồi thường cho chị Đặng Thị Thùy T số tiền 23.000.000 đồng. Anh Hải, chị T không có yêu cầu bồi thường thêm nên không yêu cầu gì, do vậy đề nghị HĐXX không xem xét.
Về tang vật: Cơ quan CSĐT Công an huyện B thu giữ và trả lại: 01 xe Kia OPTIMA BKS 49A -341.32 cho chị Đặng Thị Thùy T. Đề nghị HĐXX không xem xét.
Hiện còn tạm giữ 01 viên gạch vỡ không rõ hình dạng, có chiều dài 18cm, phần rộng nhất 08cm, phần nhỏ nhất 08cm; 01 viên gạch vỡ không rõ hình dạng, có kích thước 18cm x 04cm x 07cm. Đây là phương tiện công cụ thực hiện hành vi phạm tội, áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị xử lý tịch thu tiêu hủy.
Về án phí Hình sự sơ thẩm: Đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
+ Các bị cáo Lê Đình T, Nguyễn Phúc T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận gì với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
+ Chủ tọa công bố lời khai công bố lời khai của người bị hại.
+ Chủ tọa công bố lời khai công bố lời khai của người làm chứng anh Trịnh Văn D.
+ Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhận thức được hành vi phạm tội là sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa H toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đã có cơ sở khẳng định vào khoảng 20h00’ ngày 27/11/2021 tại thôn Thanh Bình, xã Lộc Đức, B, cho rằng em dâu Nguyễn Thị Chinh bị đánh nên bị cáo Lê Đình T dùng gạch đập phá xe ô tô Kia OPTIMA BKS 49A -341.32 và xe ô tô Ford ranger Wildtra BKS 49C -192.98 gây tổng thiệt hại là 8.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Phúc T dùng cục bê tông ném và dùng tay đấm xe ô tô Kia OPTIMA BKS 49A -341.32 gây thiệt hại với tổng trị giá 10.600.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự xâm phạm quyền sở hữu bảo vệ tài sản của người khác, gây giảm giá trị sử dụng của tài sản, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy hành vi nên trên của các bị cáo Lê Đình T, Nguyễn Phúc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện, chứng tỏ các bị cáo xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu về tình hình trật tự trị an tại địa phương. Giá trị tài sản bị cáo T cố ý làm hư hỏng tài sản là 8.000.000 đồng, giá trị tài sản bị cáo Thiện cố ý làm hư hỏng tài sản là 10.600.000 đồng. Vì vậy xét thấy cần thiết phải áp dụng cho các bị cáo một mức hình phạt đủ nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, đủ để giáo dục, răn đe, cải tạo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo suy nghĩ do người thân bị ức hiếp nên muốn bảo vệ để xem xét khi áp dụng hình phạt cho các bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bồi thường thiệt hại cho các bị hại và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên được áp dụng điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện B thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra; đủ để răn đe, phòng ngừa riêng cho các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cũng như việc đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Đặng Thị Thùy T và anh Vũ Ngọc H đã được bồi thường thiệt hại nên không yêu cầu gì, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện B thu giữ và trả lại: 01 xe Kia OPTIMA BKS 49A -341.32 cho chị Đặng Thị Thùy T. Do vậy HĐXX không xem xét.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch vỡ không rõ hình dạng, có chiều dài 18cm, phần rộng nhất 08cm, phần nhỏ nhất 08cm; 01 viên gạch vỡ không rõ hình dạng, có kích thước 18cm x 04cm x 07cm, do đây là phương tiện công cụ thực hiện hành vi phạm tội.
Về án phí, lệ phí tòa án: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án” buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Đình T và bị cáo Nguyễn Phúc T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Đình T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Lê Đình T cho UBND xã Lộc Đức, huyện B, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Giao bị cáo Nguyễn Phúc T cho UBND xã Tân Thanh, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch vỡ không rõ hình dạng, có chiều dài 18cm, phần rộng nhất 08cm, phần nhỏ nhất 08cm; 01 viên gạch vỡ không rõ hình dạng, có kích thước 18cm x 04cm x 07cm.
3. Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo Nguyễn Phúc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (2); - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện B; - Chi cục THADS H B; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Hà Vi |