vanban.org

Bản án 32/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 15/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Danh Hoàn Th, phạm tội “C gâ thương t ch”.

Xử phạt bị cáo Danh Hoàn Th: 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các Điều 357, 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật dân sự nă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Danh Hoàn Th, phạm tội “C gâ thương t ch”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/HS-ST
Ngày: 15/7/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Khánh Long

Ông Nguyễn Quốc Vinh

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đy Na - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST-HS ngày 30/6/2022 đối với bị cáo:

Danh Hoàn Th, sinh ngày 08/12/1998, tại Vĩnh Châu, Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp 1, xã 2, thị xã C, tỉnh D; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm công; Trình độ h c vấn: 12/12; Con ông Danh H (s) và bà Sơn Thị Th1 (s); Anh, chị, em ruột: 03 người; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/12/2021; (Bị cáo có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Danh Hoàn Th: Ông Nguyễn Văn B, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng; (có mặt).

Bị hại: Trương Bảo Q, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Ấp 1, xã 2, thị xã C, tỉnh D; (có mặt).

Người làm chứng:

1. Lâm S, sinh năm 1991; (vắng mặt).

2. Hồ Đình T, sinh năm 1990; ( vắng mặt).

3. Huỳnh Thị Yến N, sinh năm 1988; ( có mặt);

Cùng nơi cư trú: Ấp 1, xã 2, thị xã C, tỉnh D;

Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Lâm Diệp P – nguyên cán bộ Hội nông dân thuộc UBND phường 1, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 23/9/2021,do có mâu thuẫn từ trước, nên trong lúc nhậu tại nhà Hồ Đình T, bị hại Trương Bảo Q đã dùng tay tát vào đầu bị cáo Danh Hoàn Th. Bị cáo Danh Hoàn Th bỏ đi về nhà lấy cây dao tự chế dài khoảng 60cm (cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại) quay lại nhà của anh T chém nhiều cái trúng vào tay của bị hại Q gây thương tích. Sau đó, bị cáo Th và bị hại Q câu giật qua lại làm cho bị hại Q té xuống nền gạch bị thương tích ở vùng đầu. Liền lúc đó, được m i người ngồi nhậu chung can ngăn thì bị cáo Danh Hoàn Th cầm dao chạy về nhà và ném bỏ mất (không thu giữ được). Còn bị hại Trương Bảo Q được gia đình đưa đi Trung tâm y tế thị xã C điều trị thương tích, đến ngày 01/10/2021 xuất viện. Sau khi điều trị thương tích, bị hại Trương Bảo Q làm đơn yêu cầu xử lý truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Danh Hoàn Th về hành vi gây thương tích.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 310/TgT-PY ngày 10/11/2021 và Công văn số 21/TTPY-GĐTH ngày 18/02/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y Tế tỉnh Sóc Trăng kết luận thương tích của bị hại Trương Bảo Q: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 12%. Thương tích vùng cẳng tay trái và bàn tay phải do vật sắc tác động gây nên; Thương tích vùng thái dương trái do vật tày gây nên.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo Danh Hoàn Th đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

- Tại bản Cáo trạng số: 33/CT-VKS-VC ngày 10/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu truy tố bị cáo Danh Hoàn Th về tội “C gâ thương t ch” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu giữ qu ền công t luận tội và tranh luận:

Hành vi của bị cáo Danh Hoàn Th đã dùng cây dao chém trúng vào tay của bị hại Trương Bảo Q và sau đó hai bên câu giật làm cho bị hại Quốc té xuống nền gạch bị thương dẫn đến gây thương tích với tổng tỷ lệ là 12%. Do bị cáo Danh Hoàn Th sử dụng cây dao làm công cụ phạm tội là loại hung khí nguy hiểm. Đây là yếu tố định khung hình phạt, nên hành vi của bị cáo Danh Hoàn Th có đủ yếu tố cấu thành tội “C gâ thương t ch”, được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Danh Hoàn Th. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố: Bị cáo Danh Hoàn Th, phạm tội “C gâ thương t ch”.

+ Căn cứ vào: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo Danh Hoàn Th mức án từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.

+ Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Danh Hoàn Th có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại Trương Bảo Q các khoản chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật.

+ Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng một võ bao đựng dao dài 47cm làm bằng giấy bên ngoài quắn băng keo màu đen.

Theo phiếu nhập kho số: NK34, ngày 21/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

- Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Danh Hoàn Th trình bà kiến:

Thống nhất với Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố và ý kiến luận tội của Vị Kiểm sát viên về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ. Đối với vết thương vùng thái dương là do bị hại Trương Bảo Q tự té, nên hành vi của bị cáo Th chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với thương tích ở tay tỉ lệ 09%. Do đó, bị cáo Danh Hoàn Th chỉ phạm tội theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do vậy về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Danh Hoàn Th mức án 06 tháng tù là phù hợp. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo Th.

- Tại phiên tòa bị cáo Danh Hoàn Th trình bà và nói lời sau cùng:

Thừa nhận hành vi phạm tội của mình là có dùng dao chém trúng vào tay của bị hại Trương Bảo Q gây thương tích đúng như Bản kết luận giám định đã nêu cũng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và lời trình bày của người bị hại. Còn thương tích vùng đầu bị cáo Th cho rằng bị hại Q trượt chân té trúng vào bếp gas bị thương. Bị cáo thống nhất với ý kiến bào chữa của Vị trợ giúp viên pháp lý. Bị cáo Danh Hoàn Th nói lời sau cùng là xin giảm nhẹ hình phạt; Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Danh Hoàn Th đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại Trương Bảo Q về chi phí điều trị 9.000.000 đồng, tiền thất công lao động 4.000.000 đồng, tiền bù đắp tổn thất tinh thần 11.000.000 đồng; Còn tiền bồi dưỡng sức khỏe, bị cáo đề nghị xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa, bị hại Trương Bảo Q trình bà :

Bị hại Trương Bảo Q thừa nhận có dùng tay tát vào đầu của bị cáo Danh Hoàn Th 01 cái. Sau đó, bị cáo Th về lấy dao đi lại chém trúng vùng tay và vùng đầu của bị hại Q dẫn đến gây thương tích. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trương Bảo Q yêu cầu bị cáo Danh Hoàn Th bồi thường các khoản chi phí gồm: Tiền viện phí 9.000.000 đồng, tiền thất công lao động 4.000.000 đồng, tiền bồi dưỡng sức khỏe 36.000.000 đồng, tiền bù đắp tổn thất tinh thần 11.000.000 đồng. Tổng cộng với số tiền là 60.000.000 đồng, bị cáo Danh Hoàn Th đã bồi thường trước số tiền 4.000.000 đồng; Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị xử lý bị cáo Danh Hoàn Th theo quy định của pháp luật.

- Tại cơ quan điều tra những người làm chứng Lâm S và Hồ Đình T trình bà :

Vào 15 giờ ngày 23/9/2021, trong lúc Lâm S, Danh Hoàn Th và Hồ Đình T đang ngồi nhậu chung tại nhà của T. Lúc này có Trương Bảo Q vào ngồi nhậu chung và có dùng tay tát vào đầu Danh Hoàn Th một cái. Sau đó, hai bên cự cải rồi Th bỏ đi về lấy dao đi lại chém nhiều cái vào người của Q gây thương tích. Lâm S, Hồ Đình T đều khẳng định thương tích của bị hại Trương Bảo Q là do bị cáo Danh Hoàn Th dùng dao chém gây thương tích đúng như lời nhận tội của bị cáo Th và lời trình bày của bị hại Q cũng như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

- Tại phiên tòa, người làm chứng Huỳnh Thị Yến N trình bà :

Vào khoảng 16 ngày 23/9/2021, nghe m i người nói là Trương Bảo Q (chồng chị N) bị chém gây thương tích. Khi đến hiện trường nghe m i người nói lại là Danh Hoàn Th chém gây thương tích. Tại hiện trường chị N lượm được một vỏ bao của cây dao ở trước nhà anh Hồ Đình T và đã giao nộp cho Công an.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo; bị hại xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; bị cáo; bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 89, 91, 92, 98, 100, 102, 104, 105, 106, 108 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, người làm chứng Lâm S, Hồ Đình T do bỏ địa phương đi khỏi nơi cư trú nên đã vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng. Xét thấy, sự vắng mặt của những người làm chứng nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng nêu trên theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa đã chứng minh được hành vi phạm tội của bị cáo Danh Hoàn Th: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 23/9/2021, bị cáo Danh Hoàn Th có dùng dao tự chế chém trúng vùng cẳng tay trái và bàn tay phải và câu giật làm cho bị hại Trương Bảo Q té xuống nền gạch bị thương tích vùng thái dương trái, với tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên 12% là phù hợp với Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 310/TgT-PY ngày 10/11/2021 và Công văn số: 21/TTPY-GĐTH ngày 18/02/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y Tế tỉnh D cũng như giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện đa khoa thị xã C và hồ sơ bệnh án do Trung tâm y tế thị xã C cung cấp có trong hồ sơ vụ án.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Danh Hoàn Th, bị hại Trương Bảo Q và người làm chứng đều khẳng định thương tích của bị hại Trương Bảo Q là do bị cáo Danh Hoàn Th dùng dao chém bị hại Trương Bảo Q gây thương tích với tổng tỷ lệ 12% như đã nêu trên. Nhận thấy, lời khai của bị cáo Danh Hoàn Th tại phiên tòa phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, giấy chứng nhận thương tích, hồ sơ bệnh án… cũng như các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Tuy nhiên, do bị cáo Danh Hoàn Th sử dụng cây dao chém bị hại Trương Bảo Q gây thương tích là loại hung khí nguy hiểm và thuộc yếu tố định khung hình phạt. Hành vi này được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể: điểm đ) : “Gâ thương t ch hoặc gâ tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đâ …a). Dùng vũ kh , vật liệu nổ, hung kh ngu hiểm… ; Bị cáo Danh Hoàn Th phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và gây hậu quả thuộc trường hợp nghiêm tr ng.

Do có hành vi phạm tội nêu trên, xét thấy Cáo trạng số: 33/CT-VKS-VC ngày 10/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu truy tố bị cáo Danh Hoàn Th phạm tội “C gâ thương t ch” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa, bị cáo Danh Hoàn Th cho rằng thương tích vùng đầu của bị hại Trương Bảo Q do bị hại trượt chân té trúng vào bếp gas bị thương tích, không phải do bị cáo dùng dao chém. Còn bị hại Trương Bảo Q thì cho rằng thương tích vùng đầu là do bị cáo Th dùng dao chém gây thương tích. Xét thấy, tại biên bản ghi lời khai người làm chứng Lâm S, Hồ Đình T (những người đang ngồi nhậu chung với bị cáo) cũng như tại bản tự khai của bị cáo Th ngày 13/10/2021, biên bản đối chất giữa bị cáo Th và bị hại Q, đã có đủ căn cứ chứng minh rằng thương tích vùng đầu của bị hại Q là do trong lúc bị cáo Th dùng dao chém xong, bị cáo và bị hại câu giật với nhau làm cho bị hại Q té đập đầu xuống nền gạch bị chấn thương vùng đầu là phù hợp với kết quả giám định như nêu trên.

Động cơ phạm tội của bị cáo Danh Hoàn Th xuất phát từ việc bị hại Trương Bảo Q dùng tay tát vào đầu của bị cáo Th trước. Do tức giận và thiếu sự kiềm chế, bị cáo Th đã dùng dao chém bị hại Q dẫn đến gây thương tích như đã nêu trên. Như vậy, ý thức chủ quan của bị cáo Danh Hoàn Th là phạm tội do cố ý.

Xét thấy, hành vi của bị cáo Danh Hoàn Th là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được rằng việc dùng dao chém nhiều cái vào cơ thể của bị hại Trương Bảo Q là sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe cho bị hại và vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét thấy, hành vi của bị cáo Danh Hoàn Th không những xâm phạm đến sức khỏe của bị hại Q mà còn gây tổn hại về tinh thần cho bị hại và gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, để đảm bảo tính răn đe, nên xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian hợp lý để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội sau này, cũng như phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Danh Hoàn Th không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo có thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình; Bị cáo phạm tội do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra trước (bị hại dùng tay đánh vào đầu bị cáo trước); Bị cáo có bồi thường thiệt hại chi phí điều trị cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng; Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và là người dân tộc khmer, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét thấy, bị cáo Danh Hoàn Th có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố là phù hợp với quy định của pháp luật và đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo để trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo Danh Hoàn Th là người gây thương tích cho bị hại Trương Bảo Quốc, nên bị cáo Danh Hoàn Th phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại các khoản chi phí hợp lý theo yêu cầu của bị hại Trương Bảo Q gồm: Chi phí điều trị 9.000.000 đồng; tiền tổn thất ngày công lao động 4.000.0000 đồng (người bệnh và người nuôi bệnh); tiền bù đắp tổn thất tinh thần 11.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối với tiền bồi dưỡng sức khỏe sau khi xuất viện bị hại Trương Bảo Q yêu cầu bồi thường 06 tháng với số tiền 36.000.000 đồng là chưa hợp lý. Hội đồng xét xử xét thấy buộc bị cáo Th bồi thường tiền bồi dưỡng sức khỏe cho bị hại Q với số tiền 5.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng một vỏ bao đựng dao dài 47cm làm bằng giấy bên ngoài quắn băng keo màu đen.

Theo phiếu nhập kho số: NK34, ngày 21/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C.

Về án phí sơ thẩm: Xét thấy, bị cáo Danh Hoàn Th thuộc đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo có đơn xin miễn án phí. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Danh Hoàn Th được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, xét thấy đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Danh Hoàn Th, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Danh Hoàn Th về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo Danh Hoàn Th mức án 06 tháng tù là chưa phù hợp, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Danh Hoàn Th, phạm tội “C gâ thương t ch”.

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên xử:

1. Xử phạt bị cáo Danh Hoàn Th: 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các Điều 357, 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Danh Hoàn Th có nghĩa vụ bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho bị hại Trương Bảo Q, cụ thể như sau:

- Tiền chi phí điều trị:

= 9.000.000 đồng.

- Tiền công lao động cho người bệnh:

10 ngày x 200.000đ/người/ngày x 02 người

= 4.000.000 đồng.

- Tiền bù đắp về tổn thất tinh thần ( do bị hại yêu cầu): = 11.000.000 đồng.

- Tiền bồi dưỡng sức khỏe:

= 5.000.000 đồng.

Tổng cộng: 29.000.000 đồng (Hai mƣơi chín triệu đồng).

Được khấu trừ số tiền 4.000.000 đồng mà bị cáo Danh Hoàn Th đã bồi thường trước, bị cáo Th còn phải bồi thường tiếp cho bị hại Trương Bảo Q số tiền còn lại là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bị hại Trương Bảo Q có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị cáo Danh Hoàn Th còn phải trả lãi cho bị hại Trương Bảo Q theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng một vỏ bao đựng dao dài 47cm làm bằng giấy bên ngoài quắn băng keo màu đen.

Theo phiếu nhập kho số: NK34, ngày 21/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C.

4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Danh Hoàn Th được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.

Cỡ chữ