vanban.org

Bản án 32/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 11/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lý Thanh T, Nông Văn T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: 1. Xử phạt bị cáo Lý Thanh T 02 (hai) năm tù, thời hạn tính từ ngày 21/4/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Thanh T, Nông Văn T2 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lý Thanh T, Nông Văn T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/HS-ST
Ngày 11 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Tiển.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Quang Hưng;

Bà Đàm Thiếu Phương.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2022/HSST ngày 01 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Lý Thanh T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 8 năm 1997, tại huyện T, tỉnh L. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh L; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn lớp 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn S và bà Ngô Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 01 tiền án, tại bản án số 43/2020/HS-ST ngày 08/9/2020, Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, Lạng Sơn đã xử phạt bị cáo Lý Thanh T 01 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/6/2021, đến nay chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Đã bị xử lý hình sự, tại Bản án số 43/2020/HS-ST ngày 08/9/2020, Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, Lạng Sơn đã xử phạt bị cáo Lý Thanh T 01 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định từ ngày 21/4/2022 cho đến nay, có mặt.

2. Nông Văn T2, tên gọi khác: Không; sinh ngày 02 tháng 11 năm 1997, tại huyện, tỉnh L. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, Q, huyện T, tỉnh L; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn lớp 5/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn B (đã chết) và bà Lý Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 01 tiền án, tại bản án số 10/2020/HS-ST ngày 14/02/2020, Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, Lạng Sơn đã xử phạt bị cáo Nông Văn T2 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/8/2021, đến nay chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Đã bị xử lý hình sự theo bản án số 10/2020/HS-ST ngày 14/02/2020, Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, Lạng Sơn đã xử phạt bị cáo Nông Văn T2 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định từ ngày 21/4/2022 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại:

Bà Lý Thị Đ, sinh năm 1974, có mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện T, tỉnh L.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Đinh Văn D, sinh năm 1964, vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh L.

2. Chị Chu Thị H, sinh năm 1984, vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện T, tỉnh L.

3. Ông Nguyễn Đức C, sinh năm 1982, vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh L.

- Người làm chứng:

1. Chị Lý Thị H1, sinh năm 1983, vắng mặt.

2. Anh Đinh Văn L, sinh năm 1985, có mặt.

3. Anh Nông Văn K, sinh năm 1995, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/4/2022 Công an xã Đội Cấn, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận tố giác tội phạm của chị Lý Thị Đ, trú tại thôn L, xã Q, huyện T, tỉnh L về việc: Khoảng18 giờ 30 phút, ngày 18/4/2022 chị Lý Thị Đ đến kiểm tra lán tại nương của gia đình tại thôn Nặm Khoang, xã Đội Cấn, huyện Tràng Định (gần chốt 820 Đồn Biên phòng Pò Mã) thì phát hiện bị kẻ gian phá khóa cửa đột nhập vào bên trong lấy trộm: 02 máy cắt cỏ, 01 máy thái chuối, 03 con gà mỗi con nặng khoảng 1,5kg, 45 con gà khoảng 40 ngày tuổi, tổng thiệt hại ước tính khoảng 3.000.000 đồng. Công an xã Đội Cấn đã chuyển tố giác tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định để điều tra làm rõ.

Qua kiểm tra, xác minh, Cơ quan điều tra đã xác định được Lý Thanh T và Nông Văn T2 là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của gia đình chị Đ, cụ thể: Khoảng 15 giờ ngày 17/4/2022, Nông Văn T2 đi đến nhà Nông Văn K, trú tại thôn L, xã Q mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, BKS 12F9–9066 để đi chuộc điện thoại di động thì K đồng ý. Sau khi mượn được xe, T2 điều khiển đến nhà Lý Thanh T chơi thì thấy Lương Văn Thế đang ngồi chơi ở nhà T. Sau đó T2 rủ T đến nhà Đinh Văn Thuật chơi rồi điều khiển xe mô tô chở T và cho Thế đi nhờ đến trường cấp 2 xã Q thì Thế xuống xe, còn T2 và T đi tiếp. Trên đường đi, T rủ T2 đến lán nuôi gà của chị Lý Thị Đ dựng tại thôn Nặm Khoang, xã Đội Cấn trộm cắp tài sản thì T2 đồng ý nhưng do trời còn sáng nên cả hai chưa đi trộm cắp tài sản ngay mà đến nhà Đinh Văn Thuật chơi. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T2 điều khiển xe mô tô chở T đến lán của chị Lý Thị Đ, trên đường đi T nhặt mang theo 01 bao tải màu vàng cam cạnh đường. Đến nơi, sau khi quan sát thấy lán không có ai trông coi, T2 đi vào trong chuồng gà bắt trộm được 45 con gà ta khoảng 40 ngày tuổi đưa cho T cho vào bao tải rồi cùng nhau khiêng ra chỗ để xe mô tô, tiếp đó T2 một mình quay lại, lấy bao tải màu xanh ở trước cửa lán rồi tiếp tục vào chuồng gà bắt trộm được thêm 03 con gà mái mỗi con nặng khoảng 1,5 kg đem ra xe mô tô chỗ T chờ rồi T2 điều khiển xe mô tô chở T cùng hai bao tải đựng gà đến thị trấn Tà Lùng, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng bán. Khi đến địa phận xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, T2 dừng xe cùng T kiểm tra thấy trong bao tải có một số gà bị chết nên T vứt vào bụi cây cạnh đường rồi mượn điện thoại của một người đàn ông đi đường (không biết họ, tên, tuổi cụ thể) gọi đến số điện thoại của đối tượng tên Hữu nhà ở xã Đức Long, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng (số điện thoại do Hữu ghi cho T từ trước đó) nói là gà của gia đình T, nhờ Hữu đưa đi bán thì Hữu đồng ý. Sau đó Hữu đi xe máy đến dẫn T và T2 đến đường đôi thuộc thị trấn Tà Lùng, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng rồi Hữu gọi điện thoại cho một người phụ nữ (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ) đến gặp T và T2 mua 03 con gà mái và 26 con gà khoảng 40 ngày tuổi với giá 500.000 đồng. Bán gà xong, T và T2 đem tiền đi mua ma túy Heroine với một người đàn ông lạ mặt ở thị trấn Tà Lùng về sử dụng rồi thống nhất cùng nhau tiếp tục quay lại lán của bà Lý Thị Đ tìm lấy trộm thêm tài sản. Về đến nơi, T2 lấy 01 dao bấm bằng kim loại màu đen (của T2 đem theo từ trước) cậy cửa cùng T vào bên trong lán lấy trộm được 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Tanaka và 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Makita đem ra ngoài lán. T bảo T2 đem 02 máy cắt cỏ ra xe mô tô trước còn T một mình tự quay lại lán lấy trộm được thêm 01 máy thái chuối đem cất giấu ở miệng cống nước ở đường tuần tra biên giới rồi đi ra chỗ T2. Sau đó T2 điều khiển xe mô tô chở T cùng 02 hai máy cắt cỏ vừa trộm cắp được đến gửi tại nhà Lý Thị H1, trú tại thôn Bản Đoỏng, xã Tri Phương. Đến khoảng 10 giờ ngày 18/4/2022 T và T2 đến nhà Lý Thị H1 lấy máy cắt cỏ bình chứa nhiên liệu màu xanh nhãn hiệu Makita bán cho Đinh Văn D được 500.000 đồng, đem máy cắt cỏ bình chứa nhiên liệu màu đỏ bị nứt vỡ nhãn hiệu Tanaka bán cho Nguyễn Đức C, trú tại thôn Nà Cáy, xã Chi Lăng, huyện Tràng Định được 500.000 đồng rồi cùng nhau ra ngã tư thị trấn Thất Khê mua ma túy Heroine với một người đàn ông lạ mặt chia nhau sử dụng hết. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày T một mình đi đến nơi cất giấu lấy máy thái chuối đem bán cho bà Chu Thị Hù được 300.000 đồng, số tiền này T đã chi tiêu cá nhân hết.

Đến khoảng 19 giờ ngày 19/3/2022, T đem máy cắt cỏ nhãn hiệu POWER MATE của gia đình đến gặp Công và đề nghị được đổi lấy chiếc máy cắt nhãn hiệu Tanaka mà ngày 18/4/2022 đã bán cho Công thì được Công đồng ý và trả thêm cho T 200.000 đồng. Sau đó, T đem máy cắt cỏ về để ở hiên nhà Đinh Văn L, trú tại thôn Bản Đoỏng, xã Tri Phương rồi về ngủ. Đến ngày 20/4/2022, T bị Công an huyện Tràng Định phát hiện hành vi phạm tội.

Ngày 20/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định đã thu giữ từ Nguyễn Đức C 01 máy cắt cỏ màu đỏ, nhãn hiệu “POWER MATE”; thu giữ từ Đinh Văn D 01 máy cắt cỏ mày xanh, nhãn hiệu “Makita”; thu giữ từ chị Chu Thị H 01 máy thái chuối bằng kim loại màu trắng; thu giữ từ ông Đinh Văn L 01 máy cắt cỏ có bình chứa nhiên liệu màu đỏ bị nứt vỡ nhãn hiệu Tanaka; thu giữ từ Nông Văn T2 01 con dao bằng kim loại màu đen, loại dao bấm.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HDĐGTS, ngày 21/4/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Tràng Định kết luận: 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Makita trị giá 2.000.000 đồng; 01 máy cắt cỏ, nhãn hiệu Tanaka trị giá 1.200.000 đồng; 01 máy thái chuối trị giá 700.000 đồng; 03 con gà mái loại gà ta có tổng khối lượng khoảng 4,5 kg trị giá 450.000đồng; 45 con gà khoảng 40 ngày tuổi trị giá 1.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản của chị Lý Thị Đ bị xâm hại ngày 17/4/2022 là 6.150.000 đồng.

Với nội dung sự việc trên, tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKSTĐ ngày 01/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Lý Thanh T, Nông Văn T2 phạm tội trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Lý Thanh T, Nông Văn T2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận hành vi của bị cáo gây ra là sai, vi phạm pháp luật. Bị hại chị Lý Thị Đ yêu cầu Lý Thanh T, Nông Văn T2 liên đới bồi thường số gà bị mất trộm trị giá là 2.000.000 cho bà; ông Đinh Văn D yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 500.000 đồng mà ông bỏ ra mua máy cắt cỏ với bị cáo T; Chị Chu Thị H yêu cầu Lý Thanh T trả cho chị Hù số tiền 300.000 đồng mà chị Hù đã bỏ ra mua máy thái chuối với bị cáo T.

Các bị cáo Lý Thanh T, Nông Văn T2 chấp nhận liên đới bồi thường trị giá tài sản mà bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu nêu trên. Đối với yêu cầu của chị Chu Thị H, bị cáo Nông Văn T2 có ý kiến đó là tài sản do Lý Thanh T tự trộm cắp và bán tiêu một mình nên T không có trách nhiệm liên đới trả tiền lại chi chị Hù. Bị cáo Lý Thanh T đồng ý và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định trong phần tranh luận, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng thêm 01 tình tiết tăng nặng "Phạm tội 02 lần trở lên" theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lý Thanh T, Nông Văn T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lý Thanh T, Nông Văn T2. Xử phạt các bị cáo Lý Thanh T, Nông Văn T2 mỗi bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; về hình phạt bổ sung, do các bị cáo không có tài sản nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo; về xử lý vật chứng, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại màu đen loại dao bấm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lý Thị Đ yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường cho bà 2.000.000 đồng; ông D yêu cầu yêu cầu các bị cáo trả cho ông 500.000 đồng; Chị Chu Thị H yêu cầu bị cáo T trả cho bà 300.000 đồng. Xét thấy có căn cứ nên được chấp nhận.

Trong phần tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm về mức đề nghị hình phạt đối với các bị cáo; các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng các bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt, xử cho bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Tràng Định trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; tại phiên tòa vắng mặt Đinh Văn D, Chu Thị H, Nguyễn Đức C, Lý Thị H1, Nông Văn K. Trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai, Xét thấy tại phiên tòa vắng mặt Đinh Văn D, Chu Thị H, Nguyễn Đức C, Lý Thị H1, Nông Văn K không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật

Về hành vi cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đồng thời hoàn toàn phù hợp với biên bản thu giữ đồ vật, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Khoảng 18 giờ, ngày 17/4/2022 tại lán của gia đình chị Lý Thị Đ ở thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh L (gần chốt 820 Đồn Biên phòng Pò Mã), các bị cáo Lý Thanh T và Nông Văn T2 đã đồng phạm thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Đ, gồm: 02 máy cắt cỏ (nhãn hiệu Makita và Tanaka) tổng trị giá 3.200.000 đồng; 03 con gà tổng trị giá 450.000 đồng; 45 con gà khoảng 40 ngày tuổi tổng trị giá 1.800.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo Lý Thanh T còn tự mình trộm cắp thêm 01 máy thái chuối trị giá 700.000 đồng của chị Đ. Tổng giá trị tài sản của chị Lý Thị Đ bị xâm hại ngày 17/4/2022 là 6.150.000 đồng. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo Lý Thanh T, Nông Văn T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;

Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó gây mất trật tự an ninh của địa phương, gây bất bình trong dư luận xã hội, đồng thời các bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lười lao động, mắc vào tệ nạn xã hội, mục đích trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy và tiêu sài của bản thân nên các bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này các bị cáo Lý Thanh T, Nông Văn T2 tham gia với vai trò đồng phạm, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, và vai trò của các bị cáo trong vụ án khác nhau. Để có mức án thỏa đáng đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo như sau:

Xét về nhân thân bị cáo Lý Thanh T, có nhân thân xấu, bị cáo lười lao động và đã sớm lao vào con đường nghiện chất ma túy đã bị xử lý hình sự. Tại bản án số 43/2020/HS-ST ngày 08/9/2020, Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã xử phạt bị cáo Lý Thanh T 01 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/6/2021, đến nay chưa được xóa án tích; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong vụ án bị cáo T là vai trò chính, người khởi sướng, do vậy khi lượng hình bị cáo sẽ có mức án cao hơn đối với bị cáo T2.

Xét về nhân thân bị cáo Nông Văn T2: Bị cáo có sức khoẻ, nhưng lười lao động và đã sớm lao vào con đường nghiện ma túy, nhân thân xấu, có 01 tiền án, tại bản án số 10/2020/HS-ST ngày 14/02/2020, Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, Lạng Sơn đã xử phạt bị cáo Nông Văn T2 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/8/2021, đến nay chưa được xóa án tích; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này bị cáo là người giúp sức tích cực cùng bị cáo T trộm cắp tài sản, xét về vai trò bị cáo đứng thứ yếu trong vụ án. Do vậy khi lượng hình bị cáo sẽ có mức án thấp hơn bị cáo T.

[6 Từ đánh giá trên khi lượng hình cần xem xét nhân thân của các bị cáo, với án tương xứng với hành vi của các bị cáo gây ra, các bị cáo Lý Thanh T, Nông Văn T2, vừa chấp hành xong bản án nay chưa được xóa án tích nhưng các bị cáo không lấy đó để làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Do đó cần xử phạt cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản riêng, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại màu đen loại dao bấm; đối với 01 chiếc máy cắt cỏ nhãn hiệu Makita; 01 máy cắt cỏ, nhãn hiệu Tanaka; 01 máy thái chuối trong quá trình giải quyết vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định đã trả cho bà Lý Thị Đ. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo Lý Thanh T chấp nhận bồi thường cho bị hại bà Lý Thị Đ số tiền 1.000.000 đồng; trả cho chị Chu Thị H 300.000 đồng; trả cho ông Đinh Văn D 250.000 đồng; bị cáo Nông Văn T2 chấp nhận trả cho bà Lý Thị Đ 1.000.000 đồng; trả cho ông Đinh Văn D 250.000 đồng.

Đối với Lý Thị H1, Đinh Văn D, Chu Thị H và Nguyễn Đức C không biết tài sản mà bị cáo Lý Thanh T và Nông Văn T2 đem đến gửi và bán là do trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý; đối với Nông Văn K, Lương Văn Thế và Đinh Văn L không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của T và T2 nên không xem xét, xử lý; đối với người đàn ông mà T và T2 mua ma túy về sử dụng do không rõ tên tuổi địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh, xử lý; đối với người đàn ông tên Hữu và người phụ nữ mua gà ở thị trấn Tà Lùng, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng, do T2 và T không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh, làm rõ để xử lý.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, nên được chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo Lý Thanh T, Nông Văn T2 bị tuyên là có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định; Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm a Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với các bị cáo.

Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587 và Điều 589 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ điểm a, c, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lý Thanh T, Nông Văn T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Lý Thanh T 02 (hai) năm tù, thời hạn tính từ ngày 21/4/2022.

2.2. Xử phạt bị cáo Nông Văn T2 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 21/4/2022.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

4. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại màu đen loại dao bấm cũ đã qua sử dụng

(Chi tiết vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn ngày 01/7/2022).

5. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lý Thanh T và bị cáo Nông Văn T2 liên đới bồi thường cho bà Lý Thị Đ cụ thể:

Bị cáo Lý Thanh T bồi thường 1.000.000 (một triệu) đồng.

Bị cáo Nông Văn T2 bồi thường 1.000.000 (một triệu) đồng.

Liên đới trả cho ông Đinh Văn D cụ thể:

Bị cáo Lý Thanh T phải trả 250.000 (hai trăm năm mươi nghìn) đồng.

Bị cáo Nông Văn T2 phải trả 250.000 (hai trăm năm mươi nghìn) đồng.

Bị cáo Lý Thanh T trả cho chị Chu Thị H 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Kể từ khi án có hiệu lực ông Đinh Văn D, bà Lý Thị Đ, chị Chu Thị H có đơn yêu cầu thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

6. Về án phí:

Buộc các bị cáo Lý Thanh T, Nông Văn T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự. Tổng cộng mỗi bị cáo phải chịu 500.000 (năm trăm nghìn) đồng nộp Ngân sách Nhà nước.

7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

8. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ