vanban.org

Bản án 32/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Tuyên án 21/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đặng Minh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt Đặng Minh P 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Minh P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/HS-ST
Ngày 21 - 6- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần văn Thi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hinh,

Bà Phạm Hồng Minh

Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Hằng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Trực

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Là – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2022/HSST ngày 02 tháng 6 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án xét xử số 30/2022/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 6 năm 2022 đối với:

Bị cáo: Đặng Minh P, sinh năm 1993; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; đảng phái: Không; nơi sinh, nơi cư trú: Thôn DLN, xã TL, huyện VB, tỉnh Nam Định; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Tự do; họ và tên cha: Đặng Minh G, sinh năm 1974, đã chết; họ và tên mẹ: Đỗ Thị X, sinh năm 1976, trú tại thôn DLN, xã TL, huyện VB, tỉnh Nam Định; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 03 anh em; trước đây chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị H, sinh năm 1993, ở Xóm 6, NV, thành phố ND; có 01 con là Nguyễn Đình Q, sinh năm 2014.

Tiền sự: Không;

Tiền án: - Ngày 30/9/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 18/3/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 29/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt 6 năm tù về tội “ Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Đặng Minh P bị bắt theo Quyết định truy nã, tạm giữ từ ngày 20/4/2022 đến ngày 23/4/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nam Trực. Có mặt tại phiên tòa.

*Bị hại:

1. Anh Tô Xuân K, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn N, xã NC, huyện NT, tỉnh ND; Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Anh Phạm Thế L, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn N, xã NC, huyện NT, tỉnh Nam Định; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 16/7/2021, Đặng Minh P cùng bạn là anh Đỗ Trung Kiên, sinh năm 1985 ở thôn Đông, xã Nam Cường, huyện Nam Trực, uống bia tại bàn số 2, quán anh Lê Minh Đức, sinh năm 1976 ở xóm Phan, xã Nam Cường, huyện Nam Trực, do có việc nên anh Kiên về trước, còn lại mình P. Một lúc sau anh Tô Xuân K và anh Phạm Thế L đến quán uống bia và ngồi ở bàn số 3, cạnh bàn P. Trong lúc ngồi uống bia, thấy có một nhóm người của đội bóng 86 thôn Nguyễn, xã Nam Cường là người quen đến ngồi cạnh bàn nên anh K và anh L sang mời bia. Khi sang, anh K để 01 chiếc điện thoại di động Samsung J7PRO màu vàng và anh L để 01 điện thoại di động Iphone 8 plus màu trắng trên mặt bàn. Thấy vậy, P nảy sinh ý định trộm cắp, lợi dụng lúc không ai để ý, P đã lén lút lấy trộm 02 chiếc điện thoại của anh K và anh L bỏ vào túi quần rồi lấy xe mô tô biển số 21F-7492 đi về nhà ở thôn Dương Lai Ngoài, xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản. Khi phát hiện bị mất 2 chiếc điện thoại, anh K và anh L nhờ anh Đức là chủ quán bia trích xuất camera thì phát hiện P là người trộm cắp 2 chiếc điện thoại. Anh K gọi điện thoại vào số máy điện thoại của mình bị mất trộm yêu cầu P trả lại 2 chiếc điện thoại nhưng P bảo là không lấy rồi tắt máy. Đến sáng ngày 17/7/2021, P nói chuyện với mẹ đẻ là bà Đỗ Thị Xuân là đã trộm cắp 2 chiếc điện thoại, bà Xuân yêu cầu P trả lại nhưng P không đem trả mà nhờ bà Xuân đem trả rồi bỏ trốn khỏi địa P.

Ngày 17/7/2021, bà Xuân đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Trực giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Samsung J7PRO màu vàng và 01 điện thoại di động Iphone 8 plus màu trắng.

Tại bản K luận định giá tài sản số 22/KLĐG ngày 30/7/2021 của hội đồng định giá tài sản huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, K luận: 01 điện thoại di động Samsung J7 PRO màu vàng có giá là 2.500.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu trắng có giá là 4.500.000 đồng; tổng giá trị hai chiếc điện thoại di động là: 7.000.000 đồng.

Bị cáo Đặng Minh P bị Viện kiểm sát huyện Nam Trực truy tố tại cáo trạng số: 34/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2022. Tại phiên Tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Tuyên bố Đặng Minh P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm g, khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Minh P từ 03 năm, đến 03 năm 06 tháng tù; không phạt tiền bổ sung với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu bồi thường, nên không đặt ra xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại bị cáo số tiền 650.000 đồng, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đặng Minh P đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, trong lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của Đặng Minh P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng của vụ án và K luận định giá tài sản số 22/KLĐG ngày 30/7/2021 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở những chứng cứ này đủ cơ sở K luận: Khoảng 18 giờ ngày 16/7/2021, tại quán bia nhà anh Lê Minh Đức, sinh năm 1976, ở xóm Phan, xã Nam Cường, huyện Nam Trực, lợi dụng sơ hở, Đặng Minh P đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Samsung J7PRO màu vàng của anh Tô Xuân K và 01 điện thoại di động Iphone 8 plus màu trắng của anh Phạm Thế L để trên mặt bàn trong quán có tổng trị giá là 7.000.000 đồng.

Hành vi của Đặng Minh P đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”; trước lần phạm tội này bị cáo đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích, lại phạm tội mới nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan CSĐT và tại phiên tòa Đặng Minh P đã khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét toàn diện về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng, đủ để cải tạo, rèn luyện các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Xét bị cáo lao động tự do, thu nhập thấp và hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không phạt tiền bổ sung

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu bồi thường, nên không đặt ra xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Số tiền 650.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo nên được trả lại theo quy định tại điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật TTHS, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Đặng Minh P bị K án nên phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đặng Minh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Đặng Minh P 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Trả lại Đặng Minh P số tiền 650.000 đồng, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án (Ủy nhiệm chi số 10 ngày 02/6/2022 tại Kho bạc Nhà nước huyện Nam Trục).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; buộc Đặng Minh P phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Minh P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Tô Xuân K, anh Phạm Thế L có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hinh

Phạm Hồng Minh

Trần Văn Thi

Cỡ chữ