- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Sinh C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Triệu Sinh C, Đặng Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2022/HS-ST Ngày 18-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Hải Đoàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Xuân Tuấn.
Ông Nguyễn Hữu Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Đàm Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Kim Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2022, tại Trường Tiểu học xã H, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ L số: 37/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2022, đối với các bị cáo:
1. Triệu Sinh C, sinh ngày 03 tháng 8 năm 1989 tại Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu L (đã chết) và bà Đặng M; vợ chưa có, có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự (Quyết định xử phạt số 31/QĐ-XPHC ngày 28/02/2022, của Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/4/2022, bị tạm giam từ ngày 06/4/2022 đến nay. Có mặt.
2. Đặng Văn L, sinh ngày 04 tháng 5 năm 1986 tại Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng H (đã chết) và bà Bàn P (đã chết); có vợ là Triệu T và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/4/2022, bị tạm giam từ ngày 06/4/2022 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Triệu Sinh C: Ông Vũ Đ - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn L: Ông Bế H - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Chị Triệu Thị T. Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
2. Bà Nguyễn Thị H. Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Triệu Sinh C, Đặng Văn L, đều là người sử dụng chất ma túy. Khoảng 08 giờ ngày 03/4/2022, Triệu Sinh C có ý định đi mua ma túy về sử dụng nhưng không có xe nên gọi điện cho Đặng Văn L bảo đưa đi Kép thì L hiểu ngay là đi mua ma túy nhưng L bảo không có tiền và tắt máy. Khoảng 15 phút sau, C tiếp tục gọi điện cho L và nói không phải lo tiền, cứ đi cùng C sẽ đổ xăng và cho ma túy để sử dụng thì L đồng ý.
Đặng Văn L điều khiển xe mô tô HONDA Wave α, biển kiểm soát 12H1-290.67 đến nhà đón Triệu Sinh C. Trên đường đi, khi đến cây xăng C bỏ ra 70.000 đồng để mua xăng. C điều khiển xe mô tô và nói với L là có hơn 1.000.000 đồng để mua ma túy. Khi đến khu vực thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, C xuống xe đi bộ một mình khoảng 15m đến khu vực đường tàu thuộc tổ dân phố số 01 gặp một người đàn ông lạ mặt không biết tên, tuổi, địa chỉ mua 02 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng rồi quay lại chỗ L đang đợi, cả hai cùng sử dụng hết 02 gói ma túy. Sau đó, C điều khiển xe mô tô đưa L đến ngã tư Kép và bảo L đợi để C “đi lấy hàng”, rồi điều khiển xe mô tô quay lại mua 13 gói ma túy với giá 1.300.000 đồng. Triệu Sinh C quay lại chỗ L và nói “lấy được hàng rồi”, L hiểu là đã mua được ma túy nên điều khiển xe mô tô chở C đi về. Khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, khi cả hai về đến đoạn đường tỉnh lộ 243 thuộc thôn Liên Hợp, xã H, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, thì bị Công an xã H, huyện Hữu Lũng bắt quả tang, thu giữ 13 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu, bên trong 13 đoạn ống hút đều có chất cục bột màu trắng.
Tại Bản kết luận giám định số 130/KL-KTHS ngày 06/4/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất cục bột màu trắng đựng trong 13 ống hút nhựa gửi giám định là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,548 gam (đã trừ bì).
Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 04 tháng 5 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng đã truy tố bị cáo Triệu Sinh C, Đặng Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Triệu Sinh C, Đặng Văn L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Triệu Sinh C, Đặng Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều, 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự (áp dụng thêm khoản 5 Điều 249 đối với bị cáo C), xử phạt bị cáo Triệu Sinh C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, phạt bổ sung từ 05 - 10 triệu đồng; xử phạt bị cáo Đặng Văn L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xử L vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư dán kín bên trong có: 01 gói giấy đựng 0,501 gam chất ma túy Heroine và 01 vỏ túi ni lông, 13 vỏ ống hút. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại XIAOMI vỏ màu đen; 01 điện thoại Jinsw màu tím than.
Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo Triệu Sinh C, Đặng Văn L: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xem xét đến việc các bị cáo là người dân tộc cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ nhận thức pháp luật hạn chế để xử phạt các bị cáo ở mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo C.
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm về hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo C. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 03 tháng 4 năm 2022, tại đường tỉnh lộ 243, thuộc thôn Liên Hợp, xã H, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, các bị cáo Triệu Sinh C, Đặng Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,548 gam chất ma túy Heroine. Do đó, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Triệu Sinh C, Đặng Văn L, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong xã hội. Các bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Xét vai trò của các bị cáo, đây là vụ án có đồng phạm nhưng được tổ chức dưới hình thức đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Triệu Sinh C là người bỏ tiền mua ma túy và chủ động rủ bị cáo Đặng Văn L đi mua ma túy nên là người khởi xướng có vai trò lớn hơn bị cáo Đặng Văn L .
[4] Về nhân thân: Các bị cáo đều là người sử dụng chất ma túy, lần phạm tội này là lần đầu, bị cáo Triệu Sinh C ngày 28/02/2022, bị xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không có.
[5] Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và lời bào chữa của Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý về tội danh, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, về tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo và đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Tại biên bản xác minh thể hiện bị cáo Triệu Sinh C có tài sản do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo C nên lời bào chữa của luật sư không được chấp nhận; bị cáo Đặng Văn L không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo L.
[7] Về xử L vật chứng căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với 01 phong bì thư dán kín bên trong có: 01 gói giấy đựng 0,501 gam chất ma túy Heroine và 01 vỏ túi ni lông, 13 vỏ ống hút, là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy; đối với 02 điện thoại là phương tiện phạm tội cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước. Đối với xe mô tô 12H1-290.67, Cơ quan điều tra đã xử L nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Triệu Sinh C, do không xác minh được họ, tên, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra xử L.
[9] Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Triệu Sinh C.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Triệu Sinh C, Đặng Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Triệu Sinh C 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/4/2022.
Phạt bổ sung bị cáo Triệu Sinh C số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
2.2. Xử phạt bị cáo Đặng Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/4/2022.
3. Về xử L vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư dán kín bên trong có: 01 gói giấy đựng 0,501 gam chất ma túy Heroine và 01 vỏ túi ni lông, 13 vỏ ống hút.
- Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại XIAOMI vỏ màu đen; 01 điện thoại Jinsw màu tím than.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, chi tiết các vật chứng được mô tả theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06 tháng 5 năm 2022)
4. Về án phí: Các bị cáo Triệu Sinh C, Đặng Văn L mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí để nộp ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Hữu Lũng; - Cơ quan điều tra Công an huyện Hữu Lũng; - Cơ quan THAHS Công an huyện Hữu Lũng; - Nhà tạm giữ Công an huyện Hữu Lũng; - Chi cục THADS huyện Hữu Lũng; - Bị cáo; NCQLNVLQ; Người bào chữa; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Hải Đoàn |