vanban.org

Bản án 32/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 07/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phan Tuấn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phan Tuấn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ 28/6/2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Tuấn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Tuấn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/HS-ST
Ngày 07 – 9 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Châu Văn Dỹ

Ông Nguyễn Ngọc Trường

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ánh Hồng là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Ông Trần Chí Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Phan Tuấn H, sinh ngày 04/8/1992 tại huyện CN; nơi cư trú: Ấp MĐ, xã TT, huyện CN, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H1 và bà Huỳnh Bé B; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 28/6/2022 đến ngày 01/7/2022 chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).

- Người làm chứng:

1/ Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1989; nơi cư trú: Khóm 1, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2/ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964; nơi cư trú: Khóm 4, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 45 phút ngày 28/6/2022, Đội Đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 4 – Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp với Công an thị trấn Đầm Dơi, Công an huyện Đầm Dơi đang tuần tra trên đoạn đường Trần Phán thuộc khóm 1, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau thì phát hiện bắt quả tang Phan Tuấn H đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua làm việc H khai nhận nguồn gốc ma túy như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 28/6/2022, Hên thuê xe ôm từ phòng trọ chị Phan Thị T1 thuộc k 3, phường TX, thành phố CM đi đến đầu đường phường 9, thành phố Cà Mau gặp một người thanh niên (chưa xác định được nhân thân, lý lịch) mua ma túy đá với số tiền 900.000đ rồi đi về phòng trọ chị T1 thay đồ. Sau khi thay đồ xong, H lấy cái quần vải có cất bịch ma túy bên trong gói giấy bạc xếp lại và bỏ vào bịch nylon màu đỏ rồi đi về nhà. Khi đi xe ôm anh Nguyễn Văn T đến đoạn đường Trần phán thuộc khóm 1, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau thì bị lực lượng chức năng phát hiện tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật.

Tại bản kết luận giám định số 59/KLGĐMT-KTHS ngày 04/7/2022 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng, kết luận: Mẫu tinh thể gắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8805 gam, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ: Các hạt tinh thể dạng rắn bên trong bịch nylon trong suốt có rảnh cài và viền đỏ đã được niêm phong; 01 miếng giấy bạc; 01 cái quần vải; 01 bịch nylon màu đỏ.

Từ những tình tiết nêu trên, tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố Phan Tuấn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Phan Tuấn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phan Tuấn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu và tiêu hủy các hạt tinh thể dạng rắn bên trong bịch nylon trong suốt có rảnh cài và viền đỏ đã được niêm phong; 01 miếng giấy bạc; 01 cái quần vải; 01 bịch nylon màu đỏ.

Về án phí hình sự: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng bán ma túy cho H vào ngày 28/6/2022. Quá trình xác minh, điều tra chưa xác định được lý lịch, nhân thân của đối tượng này. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi tách ra tiếp tục điều tra làm rỏ, có căn cứ xem xét xử lý sau là phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn T người chạy xe ôm chở Hên vào ngày 28/6/2022 và chị Phan Thị T1. Quá trình điều tra chứng minh được T và T1 không biết việc H mua ma túy cất giấu trong người. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi không đặt ra xử lý đối với Nguyễn Văn T và Phan Thị T1 là phù hợp.

Đối với người đàn ông chạy xe ôm chở H đi mua ma túy. Quá trình xác minh, điều tra không xác định được lý lịch, nhân thân. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi tách ra tiếp tục điều tra làm rỏ, có căn cứ xem xét xử lý sau là phù hợp.

Lời nói sau cùng: Bị cáo H yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Tuấn H thừa nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố, cụ thể: Vào ngày 28/6/2022, tại đoạn đường Trần Phán thuộc khóm 1, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đẩm Dơi, tỉnh Cà Mau Phan Tuấn H bị Đội Đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 4 – Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp với Công an thị trấn Đầm Dơi, Công an huyện Đầm Dơi phát hiện bắt quả tang đang tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,8805 gam, loại ma túy tàng trữ là Methamphetamine.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự thì “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam”.

Do đó, hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và cũng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cho nên, Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất và mức độ về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bởi lẽ, trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, là vi phạm nghiêm trọng pháp luật hình sự, nhưng với bản tính đua đòi, sống buông thả, bất chấp và xem thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã làm xấu tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết như: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có xem xét đầy đủ hành vi, tính chất, mức độ, hậu quả, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đó là, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian suy nghĩ về việc làm của mình, cũng như có thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng trong vụ án thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không sử dụng được, đồng thời tại phên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại 01 cái quần vải nên Hội đồng xét xử xem xét cần tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí hình sự: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với đối tượng bán ma túy cho H vào ngày 28/6/2022. Quá trình xác minh, điều tra chưa xác định được lý lịch, nhân thân của đối tượng này. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi tách ra tiếp tục điều tra làm rỏ, có căn cứ xem xét xử lý sau là phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn T người chạy xe ôm chở H vào ngày 28/6/2022 và chị Phan Thị T1. Quá trình điều tra chứng minh được T và T1 không biết việc H mua ma túy cất giấu trong người. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi không đặt ra xử lý đối với Nguyễn Văn T và Phan Thị T1 là phù hợp.

Đối với người đàn ông chạy xe ôm chở H đi mua ma túy. Quá trình xác minh, điều tra không xác định được lý lịch, nhân thân. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi tách ra tiếp tục điều tra làm rỏ, có căn cứ xem xét xử lý sau là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Phan Tuấn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phan Tuấn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ 28/6/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu và tiêu hủy các hạt tinh thể dạng rắn bên trong bịch nylon trong suốt có rảnh cài và viền đỏ đã được niêm phong; 01 miếng giấy bạc; 01 cái quần vải; 01 bịch nylon màu đỏ.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Phan Tuấn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ