vanban.org

Bản án 32/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị TTr về “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Lê Quốc T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị TTr được ly hôn với ông Lê Quốc T. Về án phí: Bà Trần Thị TTr phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà TTr đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007379 ngày 16 tháng 6 năm 202… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị TTr "Ly hôn" Lê Quốc T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị TTr về “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Lê Quốc T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN TRỤ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15-8-2022
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hoàng Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Kết.

2. Bà Dương Thị Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Luyến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị TTr, sinh năm: 1991.

Địa chỉ: Số X, Ấp Y, xã TB, huyện T, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Lê Quốc T, sinh năm: 1991.

Địa chỉ: Số Z, ấp BĐ, xã BT, huyện T, tỉnh Long An.

(Bà TTr, ông T đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/6/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị TTr trình bày: Bà và ông Lê Quốc T tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TB, huyện T, tỉnh Long An vào ngày 07/12/2020. Sau khi đám cưới, bà làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh và ông T làm việc tại Long An; bà về thăm nhà vào mỗi cuối tuần. Vì vợ chồng không chung sống với nhau, thời gian gặp nhau ít nên không tìm được sự hòa hợp dẫn đến khi bà về thăm nhà thì vợ chồng thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm. Hiện nay vợ chồng đã không còn chung sống với nhau. Bà nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không thể hàn gắn được nữa, vợ chồng đã không còn quan tâm đến nhau nên bà làm đơn khởi kiện xin ly hôn với ông Lê Quốc T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông T không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà và ông T không có tài sản chung và cũng không nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về chia tài sản chung và nợ chung.

Bị đơn ông Lê Quốc T vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay và không có ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng không có yêu cầu khác và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.

Vụ án đã được Tòa án công khai chứng cứ, không tiến hành hòa giải được do nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị TTr vắng mặt nhưng có đơn đề nghị vắng mặt, bị đơn ông Lê Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Thị TTr khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Quốc T, bị đơn hiện đang cư trú tại xã BT, huyện T, tỉnh Long An theo xác nhận ngày 07/6/2022 của Công an xã BT, huyện T, tỉnh Long An. Vì vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án này được xác định là “tranh chấp về ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn ngày 16/6/2022 đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, Tòa án chỉ tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 2 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn ngày 16/6/2022 yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, vì vậy Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị TTr xin ly hôn với ông Lê Quốc T, thấy rằng: Bà Trần Thị TTr và ông Lê Quốc T tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2020 đăng ký ngày 07/12/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Bình, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An cho nên quan hệ hôn nhân giữa bà TTr và ông T được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Theo bà TTr trình bày, tình cảm vợ chồng đã không thể hàn gắn được nữa, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau và không còn quan tâm đến nhau nên yêu cầu được ly hôn với ông T. Ông T từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông T đều vắng mặt và không thể hiện ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà TTr. Như vậy chứng tỏ ông T cũng không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà TTr. Vì vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà TTr và ông T là có phát sinh trên thực tế, vợ chồng đã không còn chung sống, không còn quan tâm đến nhau, quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng nên mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thị TTr có cơ sở chấp nhận là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà TTr trình bày bà và ông T không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không có ý kiến trình bày hay phản đối với lời trình bày này của bà TTr nên Hội đồng xét xử không xem xét về con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà TTr trình bày trong quá trình chung sống bà và ông T không có tài sản chung và cũng không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về chia tài sản chung và nợ chung. Vì bị đơn vắng mặt, không có ý kiến trình bày về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

[6] Về án phí: Bà Trần Thị TTr phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 207, Điều 208, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị TTr về “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Lê Quốc T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị TTr được ly hôn với ông Lê Quốc T.

2. Về án phí: Bà Trần Thị TTr phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà TTr đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007379 ngày 16 tháng 6 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ tỉnh Long An, bà TTr đã nộp xong án phí.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ